Tổng quan nghiên cứu
Vấn đề an toàn thực phẩm đóng vai trò sống còn đối với sức khỏe cộng đồng, chất lượng nguồn nhân lực và sự phát triển bền vững của nền kinh tế du lịch đô thị. Theo báo cáo từ Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm có khoảng 600 triệu người (tương đương 1/10 dân số toàn cầu) mắc các bệnh truyền qua thực phẩm và 420.000 ca tử vong. Tại Việt Nam, công tác quản lý an toàn thực phẩm khu vực đô thị đối mặt với nhiều thách thức lớn từ chuỗi cung ứng thực phẩm tự phát và sự bùng nổ của các cơ sở dịch vụ ăn uống. Điển hình tại thành phố Đà Nẵng, trung bình mỗi năm thị trường tiêu thụ khoảng 140.000 tấn rau quả và 37.500 tấn thịt gia súc, gia cầm được cung cấp từ 15 tỉnh thành lân cận.
Quận Sơn Trà là địa bàn trọng điểm về kinh tế biển và du lịch của thành phố Đà Nẵng, có diện tích tự nhiên 63,39 km2 với quy mô dân số 162.964 người, đạt mật độ 2.519 người/km2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh cùng lượng khách du lịch tăng vọt trong 9 tháng đầu năm 2018 đạt trên 6,26 triệu lượt đã thúc đẩy mạng lưới dịch vụ ẩm thực phát triển mạnh mẽ với 3.771 cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh thực phẩm. Tuy nhiên, tình trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, minh chứng qua vụ ngộ độc thực phẩm ngày 14/5/2017 tại đường Hồ Nghinh khiến 17 người mắc và 7 người phải nhập viện điều trị.
Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ cơ sở lý luận về thực thi chính sách an toàn thực phẩm, phân tích thực trạng quản lý giai đoạn 2012–2018 tại 7 phường thuộc quận Sơn Trà, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý công. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đóng góp các chỉ số đánh giá thực thi cụ thể, nâng tỷ lệ cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm lên trên 91,34%, hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu xây dựng "Thành phố 4 an" của thành phố Đà Nẵng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chu trình chính sách công kết hợp khung phân tích quản trị rủi ro an toàn thực phẩm hiện đại. Chu trình chính sách bao gồm các giai đoạn kế tiếp nhau: xác định vấn đề, hoạch định chính sách, tổ chức thực thi chính sách, thanh tra giám sát và đánh giá kết quả chính sách. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp nguyên lý phân tích mối nguy và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP), hệ thống thực hành sản xuất tốt (GMP) và thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) nhằm tiếp cận chuỗi giá trị thực phẩm khép kín từ khâu sản xuất ban đầu, giết mổ, chế biến, bảo quản đến bàn ăn người tiêu dùng.
Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa dựa trên Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước:
- An toàn thực phẩm: Việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người trong quá trình sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng.
- Thực thi chính sách an toàn thực phẩm: Quá trình các cơ quan quản lý nhà nước chuyển hóa các quy phạm pháp luật, quyết định hành chính vào đời sống thực tế thông qua các công cụ thanh tra, cấp phép, tuyên truyền và chế tài xử phạt.
- Quản lý nhà nước liên ngành: Cơ chế phối hợp phân công, phân cấp trách nhiệm giữa ngành Y tế, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Công Thương theo tinh thần Nghị định 115/2018/NĐ-CP và Quyết định 31/2018/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Chương trình Thành phố 4 an: Đề án chiến lược theo Quyết định 2526-QĐ/TU của Thành ủy Đà Nẵng, lấy mục tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm làm 1 trong 4 trụ cột an sinh xã hội trọng yếu.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành xã hội học và khoa học chính sách công, kết hợp chặt chẽ giữa thu thập tài liệu thứ cấp và điều tra định tính thực địa:
- Dữ liệu thứ cấp: Hệ thống hóa các chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 2014–2018 từ Chi cục Thống kê quận Sơn Trà, Báo cáo số 21/BC-BCĐ ngày 21/02/2019 của Ban chỉ đạo Liên ngành Vệ sinh an toàn thực phẩm quận Sơn Trà và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
- Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát xã hội học định tính được thực hiện với dung lượng mẫu gồm 29 đối tượng thông qua phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân. Cỡ mẫu bao gồm 10 chủ cơ sở sản xuất và kinh doanh thực phẩm, 09 cán bộ quản lý an toàn thực phẩm cấp quận và phường, cùng 10 người tiêu dùng cư trú trên địa bàn.
- Phương pháp chọn mẫu: Lựa chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) nhằm bao quát đầy đủ 3 nhóm ngành quản lý (Y tế, Công Thương, Nông nghiệp) và đại diện cho các loại hình: nhà hàng lưu trú, tiểu thương chợ truyền thống, hộ kinh doanh thức ăn đường phố.
- Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc sử dụng phân tích định tính chuyên sâu kết hợp đối chiếu số liệu hành chính giúp bóc tách các rào cản ngầm định trong tâm lý tuân thủ của tiểu thương, phát hiện sự chồng chéo thẩm quyền giữa các phòng ban chuyên môn mà các báo cáo định lượng đơn thuần không phản ánh hết.
- Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu thực nghiệm được thu thập và xử lý toàn diện từ tháng 09/2018 đến tháng 02/2019.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình phân tích thực trạng thực hiện chính sách an toàn thực phẩm trên địa bàn quận Sơn Trà ghi nhận 4 phát hiện quan trọng:
Thứ nhất, tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh có đăng ký kinh doanh được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm tăng trưởng liên tục qua từng năm. Năm 2014, tỷ lệ này đạt 84,92% (276 trên 325 cơ sở), đến năm 2018 đã tăng lên 91,34% (506 trên 554 cơ sở). Trong đó, ngành Y tế cấp chứng nhận cho 451 cơ sở, ngành Nông nghiệp cấp 33 cơ sở và ngành Công Thương cấp 22 cơ sở.
Thứ hai, có sự phân hóa mạnh mẽ về tốc độ gia tăng giữa các khối hình thức kinh doanh dịch vụ ăn uống. Giai đoạn 2014–2018, số lượng cơ sở thuộc khối doanh nghiệp tăng trưởng 270,37% (từ 54 doanh nghiệp lên 146 doanh nghiệp). Song song đó, khối kinh doanh cá thể tăng 180,17% (từ khoảng 1.500 cơ sở lên 2.702 cơ sở), tạo ra áp lực quản lý vô cùng lớn đối với các lực lượng chức năng tại tuyến phường.
Thứ ba, quy mô phân bổ cơ sở quản lý an toàn thực phẩm thể hiện tính chất đa ngành phức tạp. Toàn quận quản lý tổng cộng 3.771 cơ sở, bao gồm: 1.470 cơ sở do ngành Y tế quản lý; 568 cơ sở do ngành Nông nghiệp quản lý (trong đó có 425 tàu cá công suất dưới 20CV và 65 hộ trồng rau); 1.733 cơ sở do ngành Công Thương quản lý (với 1.425 quầy kinh doanh thực phẩm trong chợ truyền thống và 240 điểm kinh doanh ngoài chợ).
Thứ tư, công tác tuyên truyền và tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm đạt độ phủ rộng nhưng mức độ tiếp thu chưa đồng đều. Trong năm 2018, quận đã tổ chức 16 lớp tập huấn cho hơn 600 đối tượng cán bộ, tiểu thương; phối hợp triển khai 05 lớp cho 350 tiểu thương tại 08 chợ truyền thống và 02 hội nghị phổ biến cho 80 chủ hộ sản xuất nông lâm thủy sản. Dù vậy, tỷ lệ thực hành đúng quy trình kiểm thực ba bước và lưu mẫu thức ăn tại các cơ sở đường phố vẫn còn ở mức thấp.
Thảo luận kết quả
Sự chuyển biến tích cực trong việc nâng cao tỷ lệ cấp giấy chứng nhận phản ánh nỗ lực quyết liệt của chính quyền quận Sơn Trà trong việc cụ thể hóa mô hình thí điểm Ban Quản lý An toàn thực phẩm thành phố Đà Nẵng theo Quyết định 1268/QĐ-TTg. Giá trị sản xuất ngành dịch vụ năm 2018 đạt 10.120 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 67,86% cơ cấu kinh tế quận, đòi hỏi các chính sách kiểm soát vệ sinh phải theo kịp tốc độ phát triển du lịch.
Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến các tồn tại xuất phát từ việc lực lượng cán bộ chuyên trách tại 7 phường còn rất mỏng, phần lớn hoạt động kiêm nhiệm. Cảng cá và Âu thuyền Thọ Quang đón hơn 20.000 lượt tàu cập bến mỗi năm với khối lượng hải sản giao dịch vượt trên 100.000 tấn, nhưng việc kiểm soát dư lượng hóa chất bảo quản và nguồn gốc xuất xứ tại chỗ còn gặp hạn chế về trang thiết bị kiểm nghiệm nhanh. So sánh với các nghiên cứu thực hiện tại tỉnh Đồng Tháp hay tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn trước, địa bàn quận Sơn Trà mang tính đặc thù cao hơn do sự đan xen giữa dịch vụ lưu trú du lịch cao cấp (264 khách sạn, 254 nhà hàng lớn) và mạng lưới chợ truyền thống lâu đời (08 chợ gồm chợ Mai, chợ Chiều, chợ Hà Thân, chợ Phước Mỹ).
Để nâng cao trực quan khoa học, các dữ liệu về biến động số lượng cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống và tỷ lệ cấp giấy chứng nhận giai đoạn 2014–2018 có thể được biểu diễn thông qua biểu đồ cột chồng kết hợp đồ thị đường xu hướng tăng trưởng. Đồng thời, một bảng ma trận phân loại rủi ro theo 3.771 cơ sở trực thuộc 3 ngành quản lý sẽ giúp các cơ quan hành chính phân bổ tần suất thanh tra định kỳ một cách tối ưu.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách an toàn thực phẩm trên địa bàn quận Sơn Trà, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất:
-
Chuẩn hóa quy trình cấp phép và chuyển đổi số công tác giám sát: Ủy ban nhân dân quận Sơn Trà chủ trì phối hợp với Ban Quản lý An toàn thực phẩm thành phố triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trong quy trình tiếp nhận và xử lý hồ sơ thẩm định. Mục tiêu đến năm 2021 đạt 100% cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống có đăng ký kinh doanh được giám sát mã định danh điện tử, rút ngắn thời gian thẩm định thực địa xuống dưới 7 ngày làm việc.
-
Siết chặt chuỗi kiểm soát nguồn gốc tại cảng cá Thọ Quang và hệ thống chợ truyền thống: Phòng Kinh tế, Đội Quản lý thị trường và Ủy ban nhân dân 7 phường tổ chức thanh tra chuyên ngành liên tục. Phấn đấu đến hết năm 2020, 100% sản phẩm thịt và thủy sản lưu thông tại 03 chợ an toàn thực phẩm điểm (Phước Mỹ, Mân Thái, Nại Hiên Đông) phải có hồ sơ truy xuất nguồn gốc rõ ràng, loại bỏ hoàn toàn tình trạng buôn bán cá nóc và gia cầm sống không qua kiểm dịch.
-
Cải tiến phương thức đào tạo và kiểm tra xác nhận kiến thức: Phòng Y tế và Trung tâm Y tế quận thiết kế lại chương trình tập huấn trực quan bằng video và hình ảnh thực tế, phù hợp cho nhóm tiểu thương lớn tuổi hoặc trình độ văn hóa hạn chế. Mục tiêu giai đoạn 2020–2022 nâng tỷ lệ vượt qua bài kiểm tra kiến thức an toàn thực phẩm đạt trên 95% đối với 2.702 chủ hộ kinh doanh cá thể.
-
Quy hoạch không gian ẩm thực đường phố và hỗ trợ sinh kế: Ủy ban nhân dân quận Sơn Trà chủ trì xây dựng các tuyến phố ẩm thực tập trung theo từng ô phố đô thị tại các phường du lịch trọng điểm như Phước Mỹ, An Hải Đông. Timeline hoàn thành trong giai đoạn 2021–2025, hướng tới chỉ tiêu khống chế tỷ lệ người mắc ngộ độc thực phẩm cấp tính dưới 6 người trên 100.000 dân theo tiêu chí "Thành phố 4 an".
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng và cơ sở lý luận chuyên sâu, đặc biệt giá trị cho 4 nhóm đối tượng:
- Cán bộ quản lý nhà nước và công chức hoạch định chính sách: Nghiên cứu là tài liệu thực tiễn giúp lãnh đạo Ủy ban nhân dân các quận, huyện, cán bộ Sở Y tế, Sở Công Thương và Ban Quản lý An toàn thực phẩm nắm bắt mô hình phân cấp, quy trình thẩm định hồ sơ và kinh nghiệm phối hợp liên ngành giải quyết các điểm nóng ô nhiễm thực phẩm.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho các chuyên ngành Chính sách công, Quản lý công, Xã hội học và Y tế công cộng, cung cấp khung phân tích chính sách hoàn chỉnh cùng phương pháp khảo sát định tính 29 mẫu sâu tại địa bàn đô thị du lịch ven biển.
- Chủ doanh nghiệp, đơn vị quản lý nhà hàng, khách sạn: Cung cấp hiểu biết đầy đủ về các chuẩn mực pháp lý theo Nghị định 115/2018/NĐ-CP, quy trình cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm 15 ngày làm việc và các tiêu chí kiểm soát bếp ăn tập thể trên 200 suất ăn.
- Ban quản lý các chợ truyền thống và hiệp hội ngành hàng: Giúp các đơn vị quản lý chợ áp dụng quy chuẩn xây dựng "Chợ Văn minh - Thương mại", mô hình chợ an toàn thực phẩm, phương pháp ghi nhãn mặt hàng giò chả và kiểm soát phụ gia trong chế biến thủy hải sản.
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ cơ sở được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm tại quận Sơn Trà đạt kết quả như thế nào?
Tỷ lệ cấp Giấy chứng nhận cho các cơ sở có đăng ký kinh doanh tăng đều qua các năm, từ mức 84,92% năm 2014 lên 91,34% vào năm 2018. Trong tổng số 506 cơ sở được cấp phép năm 2018, ngành Y tế chiếm số lượng lớn nhất với 451 cơ sở, khẳng định sự chuyển biến mạnh mẽ trong quản lý dịch vụ ăn uống.
Mô hình quản lý an toàn thực phẩm tại thành phố Đà Nẵng có điểm gì đặc biệt so với các địa phương khác?
Đà Nẵng là địa phương thứ hai trên cả nước thí điểm thành lập Ban Quản lý An toàn thực phẩm theo Quyết định 1268/QĐ-TTg. Mô hình này quy tụ chức năng quản lý và thẩm quyền thanh tra chuyên ngành từ 3 Sở (Y tế, Nông nghiệp, Công Thương) về một đầu mối duy nhất, giúp khắc phục tình trạng phân tán và chồng chéo chức năng.
Thách thức lớn nhất trong công tác bảo đảm an toàn thực phẩm tại quận Sơn Trà là gì?
Thách thức lớn nhất nằm ở sự bùng nổ của 2.702 cơ sở dịch vụ ăn uống cá thể và lượng hải sản khổng lồ trên 100.000 tấn qua cảng cá Thọ Quang mỗi năm. Bên cạnh đó, lực lượng cán bộ phụ trách an toàn thực phẩm tại 7 phường chủ yếu là kiêm nhiệm, thiếu trang thiết bị xét nghiệm nhanh tại chỗ.
Quy trình cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm tại quận Sơn Trà diễn ra trong bao lâu?
Theo quy trình hành chính chuẩn hóa, sau khi nhận hồ sơ hợp lệ tại Bộ phận một cửa, Ủy ban nhân dân quận tổ chức đoàn thẩm định thực địa tại cơ sở trong vòng 10 ngày làm việc. Nếu đạt yêu cầu, Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm sẽ được cấp trong thời hạn tối đa 15 ngày làm việc.
Luận văn đã sử dụng phương pháp khảo sát thực tế nào để thu thập dữ liệu sơ cấp?
Tác giả đã thực hiện khảo sát xã hội học định tính bằng phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân với 29 đối tượng đại diện, bao gồm 10 chủ cơ sở sản xuất kinh doanh, 09 cán bộ chuyên trách quản lý an toàn thực phẩm từ cấp quận đến phường và 10 người dân tiêu dùng thực tế trên địa bàn.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chu trình thực thi chính sách an toàn thực phẩm tại một địa bàn đô thị du lịch biển có tốc độ phát triển nhanh.
- Phân tích thực chứng kết quả cấp Giấy chứng nhận an toàn thực phẩm đạt tỷ lệ 91,34% vào năm 2018 trên tổng số 554 cơ sở có đăng ký kinh doanh tại quận Sơn Trà.
- Nhận diện chính xác các khoảng trống quản lý đối với 2.702 cơ sở ăn uống cá thể, 08 chợ truyền thống và chuỗi cung ứng thủy sản qua cảng cá Thọ Quang.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa kiểm tra chuyên ngành, số hóa hồ sơ thủ tục và quy hoạch các tuyến phố ẩm thực văn minh.
- Xác lập định hướng hoàn thiện chính sách gắn chặt với các mục tiêu của Chương trình "Thành phố 4 an", tạo nền tảng phát triển thương hiệu du lịch Đà Nẵng an toàn và văn minh.
Công trình nghiên cứu mở ra bước tiến quan trọng trong việc ứng dụng khoa học chính sách công vào giải quyết các bài toán thực tiễn của ngành an toàn thực phẩm. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2020 đến năm 2025, các cấp chính quyền và cơ quan quản lý chuyên trách cần tiếp tục nhân rộng các mô hình chợ an toàn thực phẩm, đồng thời hoàn thiện hệ thống kiểm nghiệm lưu động nhằm bảo vệ tối đa sức khỏe cộng đồng. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác trực tiếp các số liệu và giải pháp chi tiết từ toàn văn công trình nghiên cứu này để ứng dụng vào công tác thực tiễn.