Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với ngành lâm nghiệp ở cấp tỉnh Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nƣớc đối với ngành lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định Chương 3: Định hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nƣớc đối với ngành lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI NGÀNH LÂM NGHIỆP Ở CẤP TỈNH 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò ngành lâm nghiệp 1. Khái niệm ngành lâm nghiệp Nói đến ngành lâm nghiệp là nói đến rừng, Tại Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 (số 29/2004/QH11) nêu rõ: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng” .[20] Rừng là yếu tố cơ bản của môi trƣờng tự nhiên góp phần quan trọng vào phát triển bền vững, tăng trƣởng kinh tế, ổn định xã hội, an ninh quốc phòng.
Rừng cung cấp các sản phẩm thiết yếu cho nhu cầu tiêu dùng của nhân dân và xã hội, bảo vệ môi trƣờng, bảo tồn đa dạng sinh học, tạo việc làm cho ngƣời dân, nhất là ngƣời dân miền núi, góp phần xóa đói giảm nghèo. Tại Điều 2 Luật Lâm nghiệp (số 16/2017/QH14) đã đƣa ra khái niệm nhƣ sau: “Lâm nghiệp là ngành kinh tế - kỹ thuật bao gồm quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản”. [21] Có thể thấy rõ vị trí của ngành lâm nghiệp trong phát triển kinh tế quốc dân, ngoài ra ngành lâm nghiệp còn đóng vài trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trƣờng sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học. Đặc điểm ngành lâm nghiệp Lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù, giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ môi trƣờng và phát triển bền vững của các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Trong đó, nghề rừng là 8 nghề tạo ra một loại tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo đƣợc, có giá trị phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ ven biển, giúp điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nƣớc, hạn chế xói mòn, rửa trôi, sạt lở, hạn chế thiên tai lũ lụt, hạn hán, chống thoái hóa đất và hoang mạc hóa. Nhƣ vậy, tài nguyên rùng đã và đang góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp nguồn nhiên liệu sinh học thay thế nhiên liệu hóa thạch và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu (BĐKH) tích cực, linh hoạt, hiệu quả. Thực tế, chúng ta có thể hiểu kinh tế xanh một cách đơn gian đó là "ăn sạch, uống sạch, thở sạch, ở sạch và an toàn" thì rừng đóng vai trò rất tích cực cho kinh tế xanh phát triển. Bởi vì, rừng không chỉ tạo ra môi trƣờng sống trong lành, an toàn cho con ngƣời và tất cả các sinh vật trên trái đất, hấp thụ mà còn giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ môi trƣờng cho phát triển sản xuất, đời sống, cung cấp nơi ở, việc làm, tạo sinh kế ổn định, là khởi nguồn đời sống văn hóa tâm linh của những cộng đồng sống trong và gần rừng.
Đây, chính là mục tiêu của phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn 2045 đƣợc nhấn mạnh tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Ở Việt Nam, hiện tƣợng đất rừng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp làm phát thải khí CO 2 vẫn còn diễn ra. Độ che phủ của rừng thấp và chất lƣợng rừng không cao cũng đã một phần làm giảm khả năng hấp thụ khí gây hiệu ứng nhà kính thải ra từ các ngành sản xuất khác làm ảnh hƣởng tới khí hậu thời tiết ở các vùng miền trên toàn quốc, gia tăng tần suất thiên tai, gây hiện tƣợng rét đậm rét hại, mƣa lớn ngập úng, cùng với đó là tăng nhiệt độ và nƣớc biến dâng, gây triều cƣờng và nhiễm mặn, nhiễm phèn trên diện rộng, đẩy nhanh quá trình hoang mạc hóa và tăng tính cực đoan cả về cƣờng độ và tần suất của hạn hán. Vì vậy, quản lý rừng bền vững không chỉ có vị trí quan trọng đối với đời sống kinh tế - xã hội của từng quốc gia nói riêng và của toàn cầu nói chung mà còn góp phần to lớn trong việc giảm thiểu tác hại của thiên tai, ứng phó 9 tích cực biến đổi khí hậu trên thế giới, thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng một nền kinh tế xanh phát triển bền vững.
Vai trò ngành lâm nghiệp Với đặc điểm nêu trên, ngành lâm nghiệp nƣớc ta có những vai trò cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất, lâm nghiệp cung cấp lâm sản, đặc sản cây công nghiệp. Trong đó, rừng cung cấp nguồn lâm sản, đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng xã hội, trƣớc hết là gỗ và lâm sản ngoài gỗ. Sản phẩm chính của rừng là gỗ, gỗ thƣờng đƣợc dùng làm nhà, làm đồ gia dụng trong gia đình nhƣ tủ, giƣờng, bàn ghế, sạp… và làm nguyên liệu giấy, diêm, chế tạo công cụ sản xuất công nghiệp. Ngoài ra, rừng là nơi cung cấp động vật, thực vật là đặc sản phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cho con ngƣời, cung cấp nguyên liệu để chế biến thực phẩm.
Rừng cũng là nơi cung cấp dƣợc liệu quý, làm nguyên liệu cho ngành dƣợc phẩm phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho con ngƣời. Rừng chính là tài nguyên quý và quan trọng của đất nƣớc. Thứ hai, rừng phòng hộ đầu nguồn có các chức năng nhƣ: điều hòa dòng chảy, giữ đất, giữ nƣớc, chống xói mòn rửa trôi, thoái hóa đất, giảm thiểu lũ lụt, hạn hán, giữ nguồn thủy năng lớn cho các nhà máy thủy điện; rừng phòng hộ ven biển nhƣ chắn sóng, chắn gió, cát bay…; rừng phòng hộ khu công nghiệp và khu đô thị, làm sạch không khí, điều hòa khí hậu. Rừng cũng giảm thiểu tiếng ồn, tạo môi trƣờng sinh thái tốt cho con ngƣời.
Thứ ba, Lâm nghiệp còn tạo ra công ăn việc làm cho ngƣời dân, đặc biệt là những ngƣời đồng bào vùng trung du miền núi, từ đó tạo ra nguồn thu nhập giúp cải thiện đời sống cho ngƣời dân. Theo ƣớc tính thì Việt Nam đang có khoảng 25 triệu ngƣời đang sống ở vùng rừng núi, vùng sâu, vùng xa, cuộc sống còn nhiều khó khăn. Vì vậy tài nguyên rừng là nguồn thu nhập chính trong đời sống của họ. Vì vậy, ngành lâm nghiệp có vai trò rất quan 1 trọng góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho ngƣời dân vùng miền núi.
Ngoài ra, lâm nghiệp còn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh quốc phòng của đất nƣớc. Khái niệm, nội dung quản lý nhà nƣớc đối với ngành lâm nghiệp 1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với ngành lâm nghiệp Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Quản lý nhà nƣớc là hoạt động thực thi quyền lực nhà nƣớc do các cơ quan nhà nƣớc thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi.
Bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nƣớc từ lập pháp, hành pháp đến tƣ pháp vận hành nhƣ một thực thể thống nhất. Quản lý nhà nƣớc đối với ngành lâm nghiệp là một bộ phận của quản lý Nhà nƣớc có những đặc trƣng chung, vừa có cả chủ thể lẫn đối tƣợng quản lý riêng và có thể đƣợc khái quát nhƣ sau: Quản lý Nhà nƣớc về lâm nghiệp là việc sử dụng các công cụ quản lý trên cơ sở khoa học, kinh tế, luật pháp để tổ chức các hoạt động nhằm đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội nhằm đạt đƣợc yêu cầu, mục đích phát triển lâm nghiêp bền vững của Nhà nƣớc đã đặt ra. Nội dung quản lý nhà nước đối với ngành lâm nghiệp 1. Tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực Tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực là các hệ thống cơ quan quản lý Nhà nƣớc về lâm nghiệp và phân bổ công chức, viên chức, ngƣời lao động từ cấp tỉnh đến cấp xã theo quy định của pháp luật và tình hình thực tiễn chung của quản lý nhà nƣớc đối với ngành lâm nghiệp.
Với chức năng, nhiệm vụ là ban hành các tiêu chí (đối với cán bộ quản lý, công chức và ngƣời lao động), quy chế tuyển dụng, quy định vị trí, cơ cấu tổ chức của các cơ quan quản lý Nhà 1 nƣớc về lâm nghiệp. Ngoài ra, phân bổ biên chế trong các cơ quan quản lý Nhà nƣớc về lâm nghiệp gắn với vị trí việc làm trên địa bàn tỉnh. Luân chuyển công chức, tổ chức tuyển dụng, sắp xế nhân sự, đào tạo, tập huấn nguồn nhân lực để phù hợp với chức năng và nhiệm vụ đƣợc giao, sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, hoạt động theo các cấp. Cấp tỉnh Hội đồng nhân dân tỉnh (HĐND tỉnh) Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND tỉnh) Sở Nông nghiệp & PTNT Chi cục Kiểm Lâm tỉnh Sơ đồ 3.
Bộ máy quản lý Nhà nƣớc về lâm nghiệp cấp tỉnh Hội đồng nhân dân (HĐND) và UBND tỉnh đƣợc thành lập theo Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật trên địa bàn tỉnh (Luật Chính quyền địa phƣơng năm 2015) Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn, trung hạn và hằng năm của tỉnh; quyết định dự toán thu, chi ngân sách địa phƣơng và phân bổ dự toán ngân sách cấp tỉnh; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phƣơng trong trƣờng hợp cần thiết; phê chuẩn, quyết toán ngân 1 sách địa phƣơng trong lĩnh vực lâm nghiệp. Quyết định chủ trƣơng đầu tƣ, chƣơng trình dự án về lâm nghiệp của tỉnh theo quy định của pháp luật; HĐND tỉnh thông qua quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh; HĐND tỉnh giao nhiệm vụ và giám sát thực thi Hội đồng nhân dân tỉnh (HĐND tỉnh) Ủy ban nhân dân tỉnh (UBND tỉnh) Sở Nông nghiệp & PTNT Chi cục Kiểm lâm tỉnh 10 nhiệm vụ trong lĩnh vực lâm nghiệp đối với UBND tỉnh, HĐND cấp dƣới và các cơ quan quảnh lý nhà nƣớc về lâm nghiệp các cấp trên địa bàn tỉnh.