Tổng quan nghiên cứu

Ngành lâm nghiệp giữ vai trò nòng cốt trong chiến lược tăng trưởng xanh, bảo tồn sinh thái và bảo đảm an ninh quốc phòng tại khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ. Tính đến năm 2021, tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh Bình Định đạt 416.123,05 ha, chiếm tới 68,53% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh (607.151 ha), với độ che phủ rừng đạt 56,51%, mức cao hàng đầu trong khu vực. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất để xây dựng hạ tầng đang tạo áp lực gay gắt lên tài nguyên rừng. Điển hình như tại đầm Thị Nại, diện tích rừng ngập mặn từng ghi nhận trên 1.000 ha trước năm 1975 nay đã suy giảm nghiêm trọng xuống chỉ còn trên 95 ha. Bên cạnh đó, tổ chức bộ máy quản lý chuyên trách còn mỏng và sự thiếu đồng bộ trong cơ chế phối hợp kiểm tra liên ngành đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác quản lý nhà nước.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích toàn diện thực trạng quản lý nhà nước đối với ngành lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định trong giai đoạn 2017 - 2021, làm rõ những thành tựu, bất cập và nguyên nhân cốt lõi. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng hệ thống giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý giai đoạn 2022 - 2025. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 11 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh, tập trung vào các cơ quan quản lý đầu mối gồm Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Chi cục Kiểm lâm. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu duy trì độ che phủ rừng trên 56,5%, nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp vượt mức 1.446,4 tỷ đồng và mở rộng diện tích rừng gỗ lớn được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC trên 6.964,27 ha.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết quản lý kinh tế nhà nước (State Economic Management Theory) kết hợp với Lý thuyết phát triển bền vững (Sustainable Development Theory) để làm sáng tỏ bản chất của các hoạt động can thiệp công vào ngành lâm nghiệp. Trong mô hình quản lý này, quản lý nhà nước về lâm nghiệp được định nghĩa là quá trình cơ quan công quyền sử dụng tổng hợp các công cụ luật pháp, chính sách, quy hoạch và kinh tế nhằm định hướng, kiểm soát và thúc đẩy các chủ thể kinh tế bảo vệ, phát triển và khai thác tài nguyên rừng hiệu quả. Đúng như khẳng định mang tính pháp lý trong các văn bản chuyên ngành: "Lâm nghiệp là ngành kinh tế - kỹ thuật bao gồm quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; chế biến và thương mại lâm sản".

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào ba trụ cột công cụ quản lý cơ bản:

  • Công cụ pháp lý: Hệ thống quy phạm pháp luật, trọng tâm là Luật Lâm nghiệp năm 2017 (Luật số 16/2017/QH14), Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và các văn bản quy định thẩm quyền xử phạt, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
  • Công cụ quy hoạch: Phân định ranh giới chức năng 3 loại rừng gồm rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, gắn liền với kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.
  • Công cụ kinh tế - tài chính: Thực thi các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng theo Nghị định số 99/2010/NĐ-CP, quỹ bảo vệ và phát triển rừng theo Nghị định số 05/2008/NĐ-CP và các ưu đãi hỗ trợ phát triển sinh kế miền núi theo Nghị định số 75/2015/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ Cục Thống kê tỉnh Bình Định, Báo cáo theo dõi diễn biến rừng hàng năm của Chi cục Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định giai đoạn 2017 - 2021. Đối với dữ liệu khảo sát không gian, cỡ mẫu nghiên cứu bao phủ toàn bộ 11 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh, trong đó phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích (purposive stratified sampling) được áp dụng để khảo sát chuyên sâu tại 4 huyện vùng cao có tỷ lệ che phủ rừng trọng điểm trên 60% gồm An Lão (82,50%), Vĩnh Thạnh (75,82%), Vân Canh (71,18%) và Hoài Ân (66,00%).

Về phương pháp phân tích, luận văn sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian 5 năm (time-series comparative analysis) và phương pháp tổng hợp - so sánh liên vùng với các tỉnh lân cận như Gia Lai và Vĩnh Phúc. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan, định lượng chính xác sự biến động diện tích rừng, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất và đánh giá đúng mức độ hoàn thành nhiệm vụ quản lý của bộ máy hành chính địa phương theo từng mốc thời gian cụ thể.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực chứng giai đoạn 2017 - 2021 cho thấy bức tranh quản lý lâm nghiệp tại Bình Định đạt được nhiều kết quả tích cực song vẫn còn những rủi ro sinh thái đáng lo ngại:

Thứ nhất, độ che phủ rừng của toàn tỉnh có xu hướng tăng trưởng liên tục và vững chắc, từ 53,95% năm 2017 lên 54,88% năm 2018, 55,20% năm 2019, 56,03% năm 2020 và đạt 56,51% vào năm 2021. Sự gia tăng này đưa Bình Định trở thành địa phương dẫn đầu khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ về tỷ lệ che phủ rừng tự nhiên và rừng trồng tập trung.

Thứ hai, cơ cấu đất lâm nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực với tổng diện tích đạt 416.123,05 ha năm 2021. Trong đó, đất có rừng đạt 343.095 ha, chiếm tỷ trọng áp đảo 82,45% diện tích đất lâm nghiệp. Diện tích đất chưa có rừng đã thu hẹp xuống còn 73.028 ha, trong đó diện tích rừng mới trồng chưa thành rừng đạt 37.027 ha (chiếm 50,07%), cho thấy nỗ lực trồng mới bình quân đạt trên 17.179,2 ha rừng tập trung mỗi năm.

Thứ ba, cơ cấu 3 loại rừng sau các kỳ rà soát điều chỉnh đã đi vào ổn định với tổng diện tích 379.713,09 ha vào năm 2021, bao gồm: rừng đặc dụng 32.839,65 ha (chiếm 8,64%), rừng phòng hộ 178.304,87 ha (chiếm 46,96%) và rừng sản xuất 168.568,57 ha (chiếm 44,40%).

Thứ tư, giá trị kinh tế ngành lâm nghiệp tăng trưởng đều đặn. Năm 2021, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp theo giá so sánh đạt 1.446,4 tỷ đồng, tăng 2,3% (tương đương tăng 32,5 tỷ đồng) so với năm 2020. Trong đó, hoạt động khai thác gỗ và lâm sản đóng góp 1.097,4 tỷ đồng (tăng 1,4%), hoạt động trồng và chăm sóc rừng đạt 234 tỷ đồng, đồng thời diện tích được cấp chứng chỉ FSC đạt 6.964,27 ha. Tuy nhiên, hệ sinh thái tự nhiên vẫn đối mặt nguy cơ suy giảm khi đầm Thị Nại mất hơn 90% diện tích rừng ngập mặn nguyên sinh, ảnh hưởng tiêu cực đến 749 nguồn gen thực vật và động vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng độ che phủ rừng và giá trị sản xuất lâm nghiệp bắt nguồn từ việc Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt việc triển khai các chính sách hỗ trợ trồng rừng sản xuất, chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng và đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng. Khi các biểu đồ cột chồng và bảng cân đối đất đai được thiết lập qua chuỗi số liệu 2017 - 2021, sự dịch chuyển từ diện tích đất trống sang rừng trồng kinh tế thể hiện rõ nét, phản ánh sự phối hợp chặt chẽ giữa Hạt Kiểm lâm cấp huyện, Trạm Kiểm lâm địa bàn và các công ty lâm nghiệp như Công ty Lâm nghiệp Quy Nhơn, Hà Thanh, Sông Kôn.

So sánh với bài học quản lý của tỉnh Gia Lai (nơi lực lượng chức năng xử lý 2.940 vụ vi phạm lâm luật, tịch thu 5.063 m3 gỗ và nộp ngân sách hơn 30,2 tỷ đồng) và tỉnh Vĩnh Phúc (nơi huy động tổng vốn hơn 538 tỷ đồng để phân vùng sản xuất 11.637 ha gỗ lớn), công tác quản lý tại Bình Định vẫn bộc lộ hạn chế về nhân lực mỏng và trang thiết bị chữa cháy rừng chưa đồng bộ. Tình trạng xâm lấn đất rừng tự nhiên để trồng cây công nghiệp ngắn ngày vẫn xảy ra cục bộ tại các vùng giáp ranh, đòi hỏi cơ quan quản lý phải nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm và siết chặt kỷ cương thanh tra công vụ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với ngành lâm nghiệp tỉnh Bình Định trong giai đoạn 2022 - 2025, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện công tác quy hoạch và cắm mốc ranh giới 3 loại rừng:

    • Cơ quan chủ trì: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã.
    • Hành động cụ thể: Tiến hành rà soát, số hóa bản đồ địa chính và cắm mốc ranh giới thực địa cho 379.713,09 ha đất quy hoạch 3 loại rừng.
    • Mục tiêu: Hoàn thành 100% việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp cho các ban quản lý và hộ gia đình trước năm 2024, giảm thiểu 25% tranh chấp đất rừng giáp ranh.
  2. Nâng cao năng lực bộ máy kiểm lâm và ứng dụng công nghệ viễn thám:

    • Cơ quan chủ trì: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định.
    • Hành động cụ thể: Bố trí đủ định biên kiểm lâm địa bàn tại các xã trọng điểm miền núi, tổ chức tập huấn định kỳ kỹ năng điều tra hình sự lâm nghiệp và vận hành phần mềm viễn thám GIS phát hiện sớm cháy rừng và mất rừng.
    • Mục tiêu: 100% công chức kiểm lâm làm chủ công nghệ giám sát vệ tinh vào năm 2023, rút ngắn thời gian phát hiện điểm cháy dưới 30 phút.
  3. Phát triển chuỗi giá trị chế biến lâm sản và nhân rộng chứng chỉ rừng FSC:

    • Cơ quan chủ trì: Các Công ty TNHH Lâm nghiệp (Quy Nhơn, Hà Thanh, Sông Kôn) liên kết với doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu.
    • Hành động cụ thể: Chuyển đổi mô hình rừng trồng gỗ nhỏ sang rừng gỗ lớn chu kỳ dài (trên 10 năm), mở rộng diện tích liên kết cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững.
    • Mục tiêu: Nâng tổng diện tích rừng đạt chuẩn FSC từ 6.964,27 ha lên trên 15.000 ha vào năm 2025, đưa giá trị sản xuất toàn ngành vượt ngưỡng 1.650 tỷ đồng.
  4. Siết chặt thanh tra, kiểm tra và xây dựng quy chế phối hợp liên tỉnh:

    • Cơ quan chủ trì: Đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Bình Định, Hạt Kiểm lâm cấp huyện phối hợp lực lượng chức năng các tỉnh Gia Lai, Phú Yên và Quảng Ngãi.
    • Hành động cụ thể: Thành lập các tổ tuần tra lưu động tại vùng giáp ranh, xử lý nghiêm các cơ sở chế biến gỗ tiêu thụ lâm sản trái pháp luật và phục hồi 200 ha rừng ngập mặn tại lưu vực đầm Thị Nại.
    • Mục tiêu: Giảm tối thiểu 20% số vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp mỗi năm trong suốt giai đoạn 2022 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống dữ liệu trong luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh và huyện: Bao gồm Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chi cục Kiểm lâm Bình Định cùng các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thể chế, số liệu thực tiễn và giải pháp tổ chức bộ máy để xây dựng kế hoạch bảo vệ rừng trung hạn.

  2. Các chủ rừng tổ chức và doanh nghiệp lâm nghiệp: Ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và các công ty lâm nghiệp địa phương có thể ứng dụng trực tiếp mô hình chuyển hóa rừng gỗ lớn và quy trình đăng ký chứng chỉ rừng FSC để gia tăng giá trị thương mại xuất khẩu.

  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành kinh tế: Là tài liệu học thuật giá trị cho các ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp - tài nguyên và Quản lý công tại các trường đại học, phục vụ việc nghiên cứu điển cứu (case study) về đánh giá hiệu lực chính sách công.

  4. Các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng bảo tồn môi trường: Cung cấp bằng chứng thực địa về đa dạng sinh học và hiện trạng rừng ngập mặn đầm Thị Nại, làm cơ sở xây dựng các dự án tài trợ phát triển sinh kế và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Câu hỏi thường gặp

  1. Độ che phủ rừng tại tỉnh Bình Định biến động như thế nào trong giai đoạn 2017 - 2021? Độ che phủ rừng của tỉnh ghi nhận mức tăng liên tục từ 53,95% năm 2017 lên 56,51% năm 2021 (tăng 2,56%). Mức che phủ này đứng đầu khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, trong đó các huyện miền núi có tỷ lệ rất cao như An Lão đạt 82,50%, Vĩnh Thạnh đạt 75,82% và Vân Canh đạt 71,18%.

  2. Cơ cấu phân loại 3 loại rừng trên địa bàn tỉnh hiện nay được phân bổ ra sao? Tính đến năm 2021, tổng diện tích quy hoạch 3 loại rừng của Bình Định là 379.713,09 ha. Trong đó, rừng phòng hộ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 178.304,87 ha (46,96%), tiếp đến là rừng sản xuất với 168.568,57 ha (44,40%), và rừng đặc dụng chiếm 32.839,65 ha (8,64%).

  3. Ngành lâm nghiệp đóng góp như thế nào vào kinh tế tỉnh Bình Định năm 2021? Năm 2021, giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá so sánh đạt 1.446,4 tỷ đồng, tăng 2,3% so với năm 2020. Khai thác gỗ và lâm sản chiếm tỷ trọng chi phối với 1.097,4 tỷ đồng. Toàn tỉnh trồng mới được 17.179,2 ha rừng tập trung và duy trì diện tích đạt chứng chỉ FSC là 6.964,27 ha.

  4. Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm diện tích rừng ngập mặn đầm Thị Nại là gì? Nguyên nhân chủ yếu do việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để nuôi trồng thủy sản, phát triển hạ tầng đô thị ven đầm và ô nhiễm nguồn nước. Hậu quả là diện tích rừng ngập mặn giảm từ hơn 1.000 ha trước năm 1975 xuống còn trên 95 ha hiện nay, làm suy giảm nghiêm trọng nguồn lợi thủy sản.

  5. Bài học kinh nghiệm nào từ các tỉnh khác có thể áp dụng cho quản lý lâm nghiệp Bình Định? Bình Định có thể học tập mô hình của Gia Lai trong việc thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành truy quét quyết liệt vùng rừng giáp ranh để xử lý vi phạm, đồng thời vận dụng kinh nghiệm của Vĩnh Phúc trong việc huy động nguồn vốn đa dạng để phân vùng rừng gỗ lớn và phát triển cây dược liệu dưới tán rừng.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung pháp lý về quản lý nhà nước đối với ngành lâm nghiệp cấp tỉnh theo tinh thần Luật Lâm nghiệp năm 2017.
  • Đánh giá định lượng bức tranh lâm nghiệp Bình Định giai đoạn 2017 - 2021 với độ che phủ đạt 56,51%, diện tích đất lâm nghiệp đạt 416.123,05 ha và giá trị sản xuất đạt 1.446,4 tỷ đồng.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn về suy giảm hệ sinh thái rừng ngập mặn đầm Thị Nại (còn trên 95 ha), nguy cơ xâm hại 749 nguồn gen quý và hạn chế về nguồn lực kiểm lâm địa bàn.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp về quy hoạch đất rừng, chuyển đổi số quản lý kiểm lâm, mở rộng chứng chỉ FSC trên 15.000 ha và tăng cường tuần tra liên tỉnh.
  • Xác định lộ trình triển khai cụ thể giai đoạn 2022 - 2025 gắn liền với trách nhiệm thực thi của các cơ quan quản lý và đơn vị chủ rừng.

Đề tài là công trình nghiên cứu công phu, có tính thời sự cao và cung cấp nhiều căn cứ khoa học xác đáng. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể ứng dụng trực tiếp các đề xuất trong luận văn để nâng cao năng lực quản trị, thúc đẩy kinh tế lâm nghiệp Bình Định phát triển bền vững và hiệu quả.