phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cầu thành 03 chƣơng nhƣ sau: - Chƣơng 1. Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản. Thực trạng quản lý nhà nƣớc về công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Bắc Kạn. Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản tỉnh Bắc Kạn 9 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ CÔNG NGHIỆP KHAI THÁC, CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN 1.
Lý luận chung về công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản 1. Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm “Tài nguyên khoáng sản” Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa “Tài nguyên là nguồn của cải thiên nhiên chƣa khai thác hoặc đang tiến hành khai thác”. [31] Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dƣới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con ngƣời có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày. Tài nguyên khoáng sản thƣờng tập trung trong một khu vực gọi là mỏ khoáng sản.
Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế của loài ngƣời và khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác động mạnh mẽ đến môi trƣờng sống. Một mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vật chất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của con ngƣời. Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyên khoáng sản thƣờng tạo ra các loại ô nhiễm nhƣ bụi, kim loại nặng, các hóa chất độc và hơi khí độc (SO2, CO, CH4…). Tài nguyên khoáng sản đƣợc phân loại theo nhiều cách: Theo dạng tồn tại: Rắn, khí (khí đốt, Acgon, He), lỏng (Hg, dầu, nƣớc khoáng); theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra trong lòng trái đất), ngoại sinh (sinh ra trên bề mặt trái đất); theo thành phần hóa học: Khoáng sản kim loại (kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý hiếm), khoáng sản phi kim (vật liệu khoáng, đá quý, vật liệu xây dựng), khoáng sản cháy (than, dầu, khí đốt, đá cháy).
- Khái niệm “Khoáng sản” là thành tạo khoáng vật của lớp vỏ Trái đất, mà thành phần hóa học và các tính chất vật lý của chúng cho phép sử dụng chúng có hiệu quả và lợi ích trong lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất của 10 Luan van nền kinh tế quốc dân. Khoáng sản là những dạng vật chất rất gần gũi và đóng vai trò to lớn trong đời sống con ngƣời nhƣ sắt, than đá, chì-kẽm, vàng, dầu khí, nƣớc khoáng thiên nhiên,…Giá trị to lớn của khoáng sản cũng nhƣ tính phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khảo sát, thăm dò, KT,CB khoáng sản tất yếu dẫn tới Nhà nƣớc quản lý khoáng sản bằng pháp luật. Dƣới góc độ pháp luật, Luật khoáng sản năm 2010 có quy định: "Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích đƣợc tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ" Tóm lại, Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích đƣợc tích tụ tự nhiên hàng ngàn, hàng nghìn năm ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng, trên mặt đất. Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo đƣợc, là tài sản quan trọng của Quốc gia.
Giá trị to lớn của khoáng sản cũng nhƣ tính phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khảo sát, thăm dò, KT,CB khoáng sản tất yếu dẫn tới Nhà nƣớc quản lý khoáng sản bằng pháp luật. - Khái niệm “khai thác, chế biến khoáng sản” Khai thác khoáng sản Theo Luật khoáng sản 2010 thì khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, làm giàu và các hoạt động có liên quan. Đây là hoạt động đƣợc tiến hành sau khi đã có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền và đƣợc tính từ khi mỏ bắt đầu xây dựng cơ bản, khai thác bình thƣờng theo công thức thiết kế, cho đến khi mỏ kết thúc khai thác (đóng cửa mỏ - phục hồi môi trƣờng). Chế biến khoáng sản là các hoạt động nghiền sàng, phân loại, làm giàu khoáng sản nguyên khai, hoạt động khác để thu đƣợc khoáng sản có giá trị, chất lƣợng cao hơn.
11 Luan van Công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản: là quá trình từ khâu thăm dò khoáng sản, xây dựng cơ bản mỏ, khai đào cho đến khâu phân loại, làm giàu khoáng sản đến sản phẩm. Những đặc điểm của công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản Để làm rõ vấn đề QLNN về công nghiệp KT,CB khoáng sản cũng cần đánh giá đầy đủ những đặc điểm chung cũng nhƣ đặc điểm riêng của tài sản “khoáng sản”, các đặc điểm đó là: - Tính hữu hạn, không tái tạo: Khoáng sản đƣợc hình thành tích tụ trong quá trình hoạt động địa chất rất lâu dài hàng triệu năm trƣớc đó và không phải là vô hạn. Hầu hết các loại khoáng sản (trừ một số loại khoáng sản nhƣ nƣớc khoáng, nƣớc nóng thiên nhiên) khi đã đƣợc khai thác để sử dụng đều “không thể tái tạo”. Chính vì vậy, khi khai thác, sử dụng khoáng sản trong từng thời kỳ cần cân nhắc kỹ để tối đa hóa lợi ích phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài.
Nói cách khác, khoáng sản phải đƣợc khai thác, sử dụng triệt để, hợp lý, tiết kiệm có hiệu quả cao nhất. - Tính rủi ro địa chất: Khi đầu tƣ kinh doanh vào bất kỳ lĩnh vực nào cũng đều có những rủi ro ở mức độ nhất định. Tuy nhiên, đầu tƣ vào lĩnh vực khoáng sản có mức độ rủi ro cao hơn bởi có một rủi ro khác xuất phát từ đặc điểm của loại tài sản này. Khi thực hiện các hoạt động nhƣ điều tra, đánh giá, thăm dò khoáng sản là con ngƣời mong muốn có các thông tin đầy đủ hơn về mỏ khoáng sản đó trƣớc khi đầu tƣ khai thác.
Tuy nhiên, trong thực tế, kể cả trong trƣờng hợp một mỏ khoáng sản đã đƣợc thăm dò tỉ mỉ thì vẫn có những khu vực không có công trình thăm dò, khi khai thác sự thay đổi chiều dày, hàm lƣợng… và chất lƣợng, thậm chí không có quặng nằm ngay tại những khu vực này. Đây chính là tính “rủi ro địa chất” của khoáng sản (nằm ngoài ý muốn của con ngƣời). Tính rủi ro địa chất của các loại khoáng sản khác nhau cũng khác nhau. Thƣờng khoáng sản quý, hiếm có mức độ rủi ro cao hơn.
12 Luan van Ngƣợc lại, những loại khoáng sản thông thƣờng nhƣ khoáng sản làm vật liệu xây dựng có độ rủi ro thấp hơn. Khoáng sản có độ rủi ro càng cao về địa chất thì mức độ đầu tƣ cho hoạt động tìm kiếm, thăm dò cũng càng lớn và ngƣợc lại. Đây là đặc điểm cần quan tâm của khoáng sản không giống với các loại tài sản hữu hình khác. - Quan hệ hữu cơ với tài nguyên đất: Khoáng sản luôn gắn liền và có quan hệ hữu cơ với tài nguyên đất.
Khi khai thác khoáng sản luôn phải sử dụng một diện tích đất mặt nhất định, kể cả khi khai thác khoáng sản bằng phƣơng pháp hầm lò. Do đó, khi giải quyết vấn đề sở hữu về khoáng sản, cũng nhƣ khi đƣa ra các giải pháp nhằm quản lý, bảo vệ tốt khoáng sản chƣa khai thác chúng ta cũng phải giải quyết cả vấn đề liên quan giữa quyền quản lý, bảo vệ, khai thác khoáng sản với quyền sử dụng đất đai, những vấn đề về lợi ích khác có liên quan. - Quan hệ hữu cơ với tài nguyên nước: Tƣơng tự nhƣ đối với tài nguyên đất, khoáng sản cũng có mối quan hệ hữu cơ với tài nguyên nƣớc. Khi tiến hành khai thác một số loại khoáng sản, chúng ta phải sử dụng một lƣợng nƣớc mặt cũng nhƣ nƣớc ngầm để phục vụ công tác khai thác (nƣớc sinh hoạt, nƣớc phục vụ khai - tuyển v.
Trong nhiều trƣờng hợp, thân khoáng sản gắn liền với nguồn tài nguyên nƣớc nên khi khai thác đã ảnh hƣởng trực tiếp tới nguồn tài nguyên nƣớc nằm trong khu vực khai thác khoáng sản. Khi đó, trong quá trình khai thác cũng phải giải quyết vấn đề pháp lý khi sử dụng, tác động đến tài nguyên nƣớc. - Tính “đa dụng”, “đa mục đích”, “đa khoáng” và thay đổi giá trị sử dụng theo thời gian, trình độ phát triển của khoa học công nghệ: Tùy theo nhu cầu sử dụng của nền kinh tế quốc dân mà khoáng sản đƣợc sử dụng cho các mục đích khác nhau. Khoáng sản nói chung, nhất là khoáng sản kim loại thƣờng là khoáng sản đa khoáng nên cần sử dụng tổng hợp, hợp lý có hiệu quả các khoáng vật, thành phần có ích đi kèm với khoáng sản chính.
Mặt 13 Luan van khác, một loại khoáng sản khi nằm độc lập thì có thể đƣợc xem là khoáng sản chính nhƣng lại đƣợc coi là đất đá thải khi khai thác đồng thời với một loại khoáng sản khác. - Tác động trực tiếp tới môi trường trong hoạt động khoáng sản: Hoạt động khai thác khoáng sản có tác động tiêu cực và trực tiếp tới môi trƣờng, thậm chí rất lớn (hủy hoại đất mặt, thủy sinh, môi trƣờng nƣớc, môi trƣờng không khí. Tác động này không chỉ ảnh hƣởng trong phạm vi khu vực khai thác khoáng sản mà còn ảnh hƣởng tới phạm vi rộng lớn hơn ở xung quanh hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản. Do đó, khi xây dựng các chế định pháp lý quản lý khoáng sản cần phải giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến môi trƣờng trong hoạt động khai thác khoáng sản.
Thí dụ: đặc điểm công nghiệp khai thác, chế biến quặng chì kẽm là phải căn cứ vào đặc điểm khai thác; quy trình khai thác; công nghiệp khai thác, chế biến có lợi nhuận cao và có tác động đến môi trƣờng 1. Quyền sở hữu về công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản Xét về phƣơng thức sản xuất, khoáng sản là tƣ liệu sản xuất, một trong những yếu tố của lực lƣợng sản xuất, là một trong những nguồn lực phát triển KT-XH đất nƣớc. Với những cơ sở thực tiễn và pháp lý rõ ràng, với bản chất của nhà nƣớc XHCN, nhân dân có quyền làm chủ đất nƣớc, quyết định mọi vấn đề về phát triển đất nƣớc, có quyền sở hữu đối với những tài sản Quốc gia.