đặt vấn đề như vậy nên quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững có mục đích tối thượng là góp phần thực hiện thành công sự nghiệp phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước cũng như trên phạm vi các địa phương (tỉnh, huyện, xã). Trong công tác giảm nghèo bền vững, vai trò của Nhà nước là rất quan trọng để định hướng con đường giảm nghèo hướng đến mục tiêu nâng cao mức sống người nghèo, giảm dần khoảng cách giàu nghèo, tạo ra môi trường 15 công bằng, ổn định cho mọi người dân có thể phát triển bền vững thông qua việc đảm bảo an ninh lương thực cho toàn xã hội, đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp, mở rộng các hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp phù hợp với điều kiện sản xuất của các vùng khác nhau, đáp ứng yêu cầu của người nghèo; Xây dựng chiến lược phòng chống thiên tai nhằm giảm thiểu thiệt hại và ổn định sản xuất cũng như cuộc sống dân cư trong vùng thường xuyên bị thiên tai; Bảo vệ môi trường phát triển bền vững. Nếu nhà nước không can thiệp vào các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội thì sẽ dẫn tới gia tăng phân hóa giàu nghèo, phân hóa giai cấp tới hậu quả là sự bần cùng hóa và đe dọa tình hình ổn định chính trị và xã hội làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Không giải quyết thành công vấn đề giảm nghèo thì không thể thực hiện được công bằng xã hội và sự lành mạnh xã hội nói chung.
Như thế mục tiêu phát triển và phát triển bền vững không thể thực hiện được. Do đó, nhà nước phải là chủ đạo trong việc can thiệp vào các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội theo chương trình, mục tiêu đã đề ra, là tiền đề để giảm nghèo nhanh và bền vững góp phần đưa nước ta đạt tới trình độ phát triển tương đương với quốc tế và khu vực, thoát khỏi nguy cơ lạc hậu và tụt hậu. Hai là, Quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện giúp huyện xác định định rõ phương hướng và các bước hiện thực hóa giảm nghèo bền vững trên địa bàn. Có thể thấy rằng, chính những chủ trương của Đảng, hệ thống pháp luật, chương trình, chính sách của Nhà nước là công cụ để định hướng cho việc triển khai thực hiện các chương trình, đề án giảm nghèo bền vững tại địa phương, vạch ra những cách đi, bước làm cụ thể dựa trên các nguồn lực góp phần giảm nghèo nhanh, bền vững.
Đó cũng chính là những tiền đề cơ bản nhất đảm bảo cho chương trình giảm nghèo bền vững luôn đi đúng con đường và mục tiêu đã đề ra. Những yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về giảm nghèo bền vững 1. Những yếu tố chủ quan Một là, vai trò của Đảng, Nhà nước và của chính quyền địa phương về giảm nghèo bền vững Do xuất phát điểm của nền kinh tế, cùng trình độ tổ chức, quản lý xã hội của đất nước khi bước vào giai đoạn quá độ lên Chủ nghĩa xã hội còn thấp, nên vấn đề đảm bảo an sinh xã hội trong đó có giảm nghèo bền vững đã được Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương xác định là mục tiêu, biện pháp cần tiến hành đầu tiên, kiên trì, bền bỉ trong thời gian dài để góp phần củng cố, nâng cao chất lượng các nguồn lực, vừa giữ vững ổn định chính trị, từng bước nâng cao mức sống của nhân dân. Để thực hiện có hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững thì sự tác động thông qua chỉ đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước có vai trò quyết định, thể hiện trong nhiều văn kiện của Đảng từ Đại hội lần thứ VIII đến Đại hội XII, cụ thể trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020, Đảng và Nhà nước coi vấn đề giảm nghèo bền vững vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu động lực phát triển kinh tế xã hội, góp phần đảm bảo an sinh và công bằng xã hội.
Trên cơ sở đó, chính sách liên quan về giảm nghèo bền vững đã được xây dựng toàn diện, đa dạng theo nhiều hướng tiếp cận nhằm giải quyết các nguyên nhân của nghèo đói, đưa ra những chủ trương, biện pháp thiết thực để giảm nghèo bền vững trên cơ sở tiến hành đồng bộ các giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng gắn với phát triển văn hóa – xã hội; Chú trọng đẩy mạnh thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, tăng cường trợ giúp các đối tượng yếu thế, tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình kinh tế- xã hội, nhất là tại các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Hiện nay, giảm nghèo bền vững là một chính sách trọng tâm của cả nước, là một trong hai Chương trình mục tiêu quốc gia bên cạnh Chương trình 17 mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Ngay cả trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, tiêu chí giảm tỷ lệ hộ nghèo là 1 trong 19 tiêu chí cơ bản đạt chuẩn Nông thôn mới (Có phụ lục 2 chi tiết kèm theo) Hai là, hệ thống pháp luật liên quan đến chính sách giảm nghèo bền vững Pháp luật là nhân tố quan trọng để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, là phương tiện để nhà nước quản lý các mặt quan trọng của đời sống xã hội. Thông qua pháp luật, Nhà nước đề ra các chính sách phát triển đời sống xã hội, xác định cơ cấu, tổ chức và hoạt động, kiểm tra, giám sát đối với lĩnh vực đời sống xã hội; đưa ra các biện pháp xử lý những hiện tượng tiêu cực.
Pháp luật có tác dụng thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cũng như kìm hãm sự phát triển của lĩnh vực nào đó vì sự tiến bộ của xã hội và đời sống nhân dân. Trong hoạt động giảm nghèo bền vững, pháp luật là một công cụ để chính thức hóa các chủ trương, đường lối của Đảng áp dụng trong quản lý điều hành. Nhà nước ta đã xác định quản lý mọi mặt của đời sống bằng pháp luật, là nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Vì vậy, quản lý nhà nước giảm nghèo bền vững có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào sự đồng bộ, tính khoa học, rõ ràng, cụ thể của hệ thống pháp luật.
Ba là, Chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức thực thi quản lý nhà nước giảm nghèo bền vững. Đây là yếu tố có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện quản lý nhà nước giảm nghèo bền vững. Năng lực tổ chức, quản lý của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực hiện quản lý nhà nước giảm nghèo bền vững là thước đo bao gồm nhiều tiêu chí phản ánh về đạo đức công vụ, về năng lực thiết kế tổ chức thực hiện, năng lực phân tích, dự báo để có thể chủ động ứng phó được với những tình huống phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách. 18 Các cán bộ, công chức trong cơ quan công quyền khi được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện chính sách, cần nêu cao tinh thần trách nhiệm và chấp hành tốt kỷ luật công vụ trong lĩnh vực này mới đạt hiệu quả thực hiện.
Đây là một yêu cầu rất quan trọng đối với mỗi cán bộ, công chức để thực hiện việc chuyển tải ý đồ chính sách của nhà nước vào cuộc sống. Nếu thiếu năng lực thực tế, các cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện chính sách sẽ đưa ra những kế hoạch không bám sát với thực tế, dẫn đến lãng phí nguồn lực được huy động, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách, thậm chí còn làm biến dạng chính sách trong quá trình thực hiện. Bốn là, Nguồn lực để thực hiện quản lý nhà nước giảm nghèo bền vững Nguồn lực là một yếu tố mang tính quyết định đến việc triển khai các hoạt động quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững trong thực tế, chính sách có được thực hiện, thực hiện đến đâu, có hoàn thành hay không quyết định ở việc phân bổ nguồn lực thực hiện. Ở nước ta, nguồn lực chủ yếu để thực hiện quản lý nhà nước giảm nghèo bền vững được cân đối từ ngân sách nhà nước, ngoài ra còn có sự huy động từ các nguồn khác như của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ và sự đóng góp của các quỹ từ thiện, cá nhân trong và ngoài nước.
Tốc độ phát triển kinh tế có vai trò quan trọng đối với nguồn lực giảm nghèo, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nguồn thu ngân sách tăng thì các khoản chi cho các lĩnh vực trong đó có giảm nghèo bền vững được nâng cao, các nguồn lực khác được đảm bảo hỗ trợ cho công tác giảm nghèo như xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sơ, giáo dục, y tế….2 Yếu tố khách quan Một là, Tác động của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, đô thị hóa Xu thế toàn cầu hóa đã mở ra các mối quan hệ kinh tế, thương mại, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam, tạo điều kiện thu hút 19 các nguồn vốn viện trợ chính thức (ODA) để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội, đầu tư phát triển giáo dục - đào tạo, quyết việc làm tăng thu nhập cho người lao động nhằm góp phần giảm nghèo bền vững. Tuy nhiên hội nhập kinh tế cũng đặt ra nhiều thách thức, khó khăn, đưa lại những rủi ro khó dự báo và quy mô lớn về những dịch bệnh, sự bất an về giá cả thị trường, yêu cầu cao về sự cạnh tranh, tình trạng thất nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đến những người có thu nhập thấp, đặc biệt là người nghèo đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải có các công cụ pháp luật, chính sách để phát huy các lợi thế và hạn chế các thách thức của xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, góp phần thực hiện tốt quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững.