Luận án Tiến Sĩ về Quản Lý Nhà Nước trong Ngành Du Lịch tại Đồng Bằng Sông Cửu Long

Luận văn phân tích Quản lý nhà nước về du lịch tại Đồng Bằng Sông Cửu Long: Luận án Tiến Sĩ, vận dụng lý thuyết vững chắc, đề xuất giải pháp sáng tạo

Trường đại học

Học viện Hành chính Quốc gia

Chuyên ngành

Quản lý công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

244
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về quản lý nhà nước về du lịch tại Đồng Bằng Sông Cửu Long

Quản lý nhà nước về du lịch tại Đồng Bằng Sông Cửu Long là một lĩnh vực quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và xã hội của vùng. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực này không chỉ bao gồm việc xây dựng chính sách mà còn liên quan đến việc thực thi các quy định pháp luật, phát triển hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch. Luận án Tiến sĩ này tập trung vào việc phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý du lịch tại khu vực này. Theo tác giả, việc phát triển du lịch không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo tồn văn hóa và môi trường. Đặc biệt, chính sách du lịch cần được xây dựng dựa trên sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan.

1.1. Tầm quan trọng của du lịch tại Đồng Bằng Sông Cửu Long

Du lịch tại Đồng Bằng Sông Cửu Long có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Khu vực này nổi bật với các sản phẩm du lịch đa dạng như du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và du lịch cộng đồng. Kinh tế du lịch không chỉ tạo ra việc làm mà còn góp phần nâng cao đời sống người dân. Theo nghiên cứu, địa lý du lịch của vùng có nhiều tiềm năng chưa được khai thác triệt để. Việc phát triển du lịch bền vững sẽ giúp bảo tồn các giá trị văn hóa và sinh thái, đồng thời tạo ra nguồn thu ổn định cho ngân sách địa phương.

II. Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đồng Bằng Sông Cửu Long

Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đồng Bằng Sông Cửu Long hiện nay cho thấy nhiều điểm mạnh và hạn chế. Các cơ quan chức năng đã có những nỗ lực trong việc xây dựng và triển khai chính sách du lịch, tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục. Một trong những vấn đề lớn là sự thiếu đồng bộ trong việc thực hiện các quy hoạch và kế hoạch phát triển du lịch. Nhiều địa phương chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong việc phát triển sản phẩm du lịch, dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh. Hơn nữa, tài nguyên du lịch chưa được khai thác hiệu quả, gây lãng phí nguồn lực. Đánh giá từ các chuyên gia cho thấy, cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình này.

2.1. Những điểm mạnh trong quản lý nhà nước về du lịch

Một số điểm mạnh trong quản lý du lịch tại Đồng Bằng Sông Cửu Long bao gồm sự quan tâm của chính quyền địa phương đối với phát triển du lịch. Các chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành du lịch đã được triển khai, giúp nâng cao chất lượng dịch vụ. Hơn nữa, sự phát triển của hợp tác quốc tế trong lĩnh vực du lịch cũng đã mang lại nhiều cơ hội cho khu vực. Tuy nhiên, để phát huy những điểm mạnh này, cần có sự đầu tư đồng bộ và chiến lược rõ ràng từ các cơ quan quản lý nhà nước.

III. Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch

Để hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, cần xác định rõ các định hướng phát triển. Một trong những định hướng quan trọng là xây dựng chính sách du lịch bền vững, tập trung vào việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và văn hóa. Các giải pháp cần thiết bao gồm việc cải thiện hạ tầng du lịch, phát triển sản phẩm du lịch đặc thù và tăng cường quảng bá hình ảnh du lịch của vùng. Hợp tác giữa các địa phương trong việc phát triển du lịch cũng là một yếu tố quan trọng. Theo tác giả, việc thực hiện các giải pháp này sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý du lịch và tạo ra sự phát triển bền vững cho khu vực.

3.1. Giải pháp về chính sách và quy hoạch

Giải pháp đầu tiên là hoàn thiện các chính sách du lịch hiện hành, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với thực tiễn. Cần xây dựng quy hoạch phát triển du lịch đồng bộ, kết hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương. Việc này sẽ giúp tạo ra một môi trường thuận lợi cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch. Hơn nữa, cần có các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc phát triển sản phẩm du lịch, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ và thu hút du khách.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Du lịch được xem là một phương tiện để phát triển đất nước từ những năm 60 của thế kỷ XX. Du lịch là một ngành giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế toàn cầu. Mặc dù là ngành mới so với nông nghiệp và công nghiệp nhưng du lịch đang có những bước phát triển mạnh mẽ, có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia.

Du lịch được xác định là “Ngành công nghiệp không khói” [26] và đang trở thành “Ngành kinh tế mũi nhọn” [104]. Được coi là ngành kinh tế mang tính tổng hợp, du lịch góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, tạo việc làm, tăng thu nhập, mở rộng quan hệ, giao lưu văn hóa giữa các địa phương, giữa các quốc gia [20]. Trong những năm gần đây, du lịch đóng góp tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân, tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng, làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vào cán cân thanh toán quốc tế, là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả, góp phần củng cố, phát triển mối quan hệ kinh tế đối ngoại, giải quyết việc làm cho người dân địa phương. Du lịch có tốc độ tăng trưởng hàng năm đều cao hơn 14%/năm gần gấp hai lần tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế, du lịch đóng góp cho nền kinh tế rất lớn, nhất là nộp ngân sách nhà nước.

Du lịch phát triển tạo cơ hội, điều kiện cho các ngành kinh tế khác cùng phát triển, vì vậy du lịch có khả năng làm thay đổi bộ mặt kinh tế nước ta. Ngành du lịch phát triển góp phần giải quyết việc làm, bởi các ngành dịch vụ liên quan đến du lịch đều cần một lượng lao động, giải quyết các vấn đề xã hội [37]. Do đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam rất chú trọng quan tâm đến phát triển du lịch. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16 tháng 01 năm 2017 của Bộ Chính trị về “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” [5]; Luật Du lịch năm 2017 [62]; Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu [22], Nghị quyết này là cơ sở để triển khai nhiều chương trình, hoạt động của Chính phủ nhằm thúc đẩy phát triển bền vững vùng 1 luan an ĐBSCL; Quyết định số 2227/QĐ-TTg ngày 18 tháng 11 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trải dài từ trung ương đến địa phương [90].

Thực tế cho thấy, mọi nền kinh tế đều cần có sự quản lý của Nhà nước. Nền kinh tế muốn phát triển nhanh đòi hỏi đất nước phải có cơ sở hạ tầng (phục vụ sản xuất và đời sống) hiện đại, lĩnh vực chỉ có duy nhất Nhà nước đảm nhiệm được. Con người ý thức rõ kinh tế phát triển ngày càng cao thì càng cần có sự quản lý của Nhà nước về kinh tế. Xu hướng hội nhập nền kinh tế của nước ta vào nền kinh tế thế giới, mở rộng hợp tác, giao lưu quốc tế.

Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc ổn định môi trường chính trị, xã hội, tạo cơ hội tốt cho nền kinh tế phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài. Do định hướng phát triển kinh tế nước ta là phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước nên quản lý nhà nước (QLNN) đối với nền kinh tế là tất yếu khách quan. Chỉ có Nhà nước mới có đủ sức mạnh, cơ sở vật chất để thực hiện chức năng quản lý nền kinh tế. Ngành kinh doanh du lịch giống như một cơ thể sống, luôn đòi hỏi sự quản lý sáng tạo để duy trì phát triển.

Thành công hay thất bại của ngành du lịch cũng như nhu cầu nền kinh tế của một nước phụ thuộc vào việc xây dựng sáng tạo những chính sách thích hợp với điều kiện, trình độ phát triển của một đất nước. QLNN về du lịch là một vấn đề cần thiết được đặt lên hàng đầu. Du lịch mới trong giai đoạn đầu phát triển, còn gặp nhiều khó khăn, thách thức lớn; nên rất cần sự tham gia chỉ đạo, định hướng của Nhà nước để du lịch phát triển. Vì vậy, quản lý du lịch trong nền kinh tế thị trường của Nhà nước là cần thiết và khách quan: (1) Do những khuyết tật, hạn chế của cơ chế thị trường, do Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, thể hiện ở việc định hướng phát triển kinh tế - xã hội và ngành kinh tế du lịch trong từng thời kỳ.

(2) Để giải quyết các mâu thuẫn của kinh tế thị trường, duy trì sự ổn định, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế. (3) Tạo sự thống nhất trong tổ chức, phối hợp các hoạt động của cơ quan QLNN về du lịch. Đồng thời, giúp khai thác các thế mạnh của từng vùng, địa phương đạt kết quả. Phát huy lợi thế so sánh của quốc gia trong phát triển du lịch quốc tế.

(4) Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta. Nó liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau do vậy rất cần 2 luan an sự quản lý của Nhà nước điều hòa mối quan hệ giữa du lịch với các ngành, lĩnh vực liên quan. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất giàu tiềm năng, lợi thế về du lịch, các tỉnh, thành ĐBSCL đang nỗ lực đẩy mạnh phát triển du lịch, đặc biệt là xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù. So với tiềm năng của vùng ĐBSCL, kết quả thu hút, phát triển du lịch vẫn chưa đạt như mong muốn, chưa tương xứng với tiềm năng.

Điều này có thể thấy rõ trong 6 tháng đầu năm 2018, vùng ĐBSCL chỉ đón được gần 1,6 triệu trong tổng số hơn 7,8 triệu lượt du khách quốc tế đến Việt Nam. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng ĐBSCL đến năm 2020, vùng sẽ đón khoảng 34 triệu lượt khách, trong đó 3,5 triệu lượt khách quốc tế và đạt 25.000 tỷ đồng doanh thu. Phấn đấu đến năm 2030 đón khoảng 52 triệu lượt khách, trong đó có khoảng 6,5 triệu lượt khách quốc tế [101]. Để đạt được mục tiêu, đòi hỏi sự phấn đấu của tất cả cá nhân, cơ quan, tổ chức từ trung ương đến địa phương, quan trọng hơn hết là có sự tham gia quản lý về du lịch của Nhà nước để có định hướng, tổ chức thực hiện, kiểm tra quá trình phát triển du lịch tại ĐBSCL.

Việc tìm hiểu thực trạng QLNN về du lịch tại ĐBSCL sẽ cho thấy rõ những điểm mạnh, những hạn chế còn tồn tại trong quá trình QLNN về du lịch tại các địa phương này để từ đó có thể đưa ra đề xuất và thực hiện một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về du lịch tại ĐBSCL. Chính bởi lẽ những lý do đó nên rất cần thiết có một đề tài luận án nghiên cứu: “Quản lý nhà nước về du lịch tại Đồng bằng sông Cửu Long”. Sự cần thiết này bắt nguồn từ thực tiễn sự phát triển du lịch và vai trò không thể thiếu của QLNN về du lịch tại ĐBSCL. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.

Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của QLNN về du lịch khu vực ĐBSCL để đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN về du lịch trên địa bàn vùng ĐBSCL trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án thực hiện những nhiệm vụ sau đây: Thứ nhất, hệ thống hóa, đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu, từ đó xác định những vấn đề mà luận án sẽ kế thừa cũng như những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu. Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về du lịch của vùng ĐBSCL, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và những nguyên nhân chủ yếu của tình hình, đặc biệt là quản lý của chính quyền các tỉnh, thành phố trong vùng ĐBSCL. Thứ ba, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về du lịch của vùng ĐBSCL, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.

Thứ tư, đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN về du lịch vùng ĐBSCL và luận giải các điều kiện, kiến nghị các cơ quan chức năng hoàn thiện QLNN về du lịch của vùng ĐBSCL. Câu hỏi nghiên cứu Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, luận án cần giải quyết những câu hỏi nghiên cứu cơ bản sau đây: - Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu như thế nào? - Quản lý nhà nước về du lịch tại ĐBSCL dựa trên những cơ sở khoa học nào? - Quản lý nhà nước về du lịch tại ĐBSCL có những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của điểm mạnh và điểm yếu là gì? - Giải pháp và kiến nghị nào để hoàn thiện QLNN về du lịch tại vùng ĐBSCL? 4 luan an 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là Quản lý nhà nước về du lịch tại Đồng bằng sông Cửu Long, trong khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ được phân cấp cho chính quyền cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) dưới góc độ quản lý kinh tế.

Phạm vi nghiên cứu 4. Phạm vi về nội dung Phạm vi về nội dung nghiên cứu là tập trung làm rõ những nội dung QLNN về du lịch tại ĐBSCL, trong đó chú trọng việc hoạch định phát triển các hoạt động du lịch tại vùng ĐBSCL; xây dựng và triển khai thực hiện cơ chế, chính sách về hoạt động du lịch trên địa bàn; tổ chức hoạt động du lịch; phát triển kết cấu hạ tầng du lịch trên địa bàn; khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn và kiểm tra, kiểm soát hoạt động du lịch trên địa bàn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án Tiến Sĩ về Quản Lý Nhà Nước trong Ngành Du Lịch tại Đồng Bằng Sông Cửu Long của tác giả Trần Thị Xuân Mai, dưới sự hướng dẫn của các giảng viên Lương Minh Việt và Đào Đăng Kiên, được thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia vào năm 2019. Bài luận án này tập trung vào việc phân tích và đánh giá các chính sách quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long, một trong những vùng có tiềm năng du lịch lớn của Việt Nam. Nội dung của luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng quản lý mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước trong ngành du lịch, từ đó góp phần phát triển bền vững cho khu vực này.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch tại tỉnh Ninh Bình, nơi cũng nghiên cứu về quản lý nhà nước trong ngành du lịch, và Luận văn về quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo tại Việt Nam giai đoạn hiện nay, giúp bạn hiểu thêm về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn những góc nhìn đa dạng và sâu sắc hơn về vai trò của quản lý nhà nước trong các lĩnh vực khác nhau.