PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Du lịch được xem là một phương tiện để phát triển đất nước từ những năm 60 của thế kỷ XX. Du lịch là một ngành giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế toàn cầu. Mặc dù là ngành mới so với nông nghiệp và công nghiệp nhưng du lịch đang có những bước phát triển mạnh mẽ, có vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia.
Du lịch được xác định là “Ngành công nghiệp không khói” [26] và đang trở thành “Ngành kinh tế mũi nhọn” [104]. Được coi là ngành kinh tế mang tính tổng hợp, du lịch góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngành kinh tế khác, tạo việc làm, tăng thu nhập, mở rộng quan hệ, giao lưu văn hóa giữa các địa phương, giữa các quốc gia [20]. Trong những năm gần đây, du lịch đóng góp tích cực vào quá trình tạo nên thu nhập quốc dân, tham gia tích cực vào quá trình phân phối lại thu nhập quốc dân giữa các vùng, làm tăng thu nhập quốc dân thông qua thu ngoại tệ, đóng góp vào cán cân thanh toán quốc tế, là hoạt động xuất khẩu có hiệu quả, góp phần củng cố, phát triển mối quan hệ kinh tế đối ngoại, giải quyết việc làm cho người dân địa phương. Du lịch có tốc độ tăng trưởng hàng năm đều cao hơn 14%/năm gần gấp hai lần tốc độ tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế, du lịch đóng góp cho nền kinh tế rất lớn, nhất là nộp ngân sách nhà nước.
Du lịch phát triển tạo cơ hội, điều kiện cho các ngành kinh tế khác cùng phát triển, vì vậy du lịch có khả năng làm thay đổi bộ mặt kinh tế nước ta. Ngành du lịch phát triển góp phần giải quyết việc làm, bởi các ngành dịch vụ liên quan đến du lịch đều cần một lượng lao động, giải quyết các vấn đề xã hội [37]. Do đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam rất chú trọng quan tâm đến phát triển du lịch. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16 tháng 01 năm 2017 của Bộ Chính trị về “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” [5]; Luật Du lịch năm 2017 [62]; Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu [22], Nghị quyết này là cơ sở để triển khai nhiều chương trình, hoạt động của Chính phủ nhằm thúc đẩy phát triển bền vững vùng 1 luan an ĐBSCL; Quyết định số 2227/QĐ-TTg ngày 18 tháng 11 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng ĐBSCL đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trải dài từ trung ương đến địa phương [90].
Thực tế cho thấy, mọi nền kinh tế đều cần có sự quản lý của Nhà nước. Nền kinh tế muốn phát triển nhanh đòi hỏi đất nước phải có cơ sở hạ tầng (phục vụ sản xuất và đời sống) hiện đại, lĩnh vực chỉ có duy nhất Nhà nước đảm nhiệm được. Con người ý thức rõ kinh tế phát triển ngày càng cao thì càng cần có sự quản lý của Nhà nước về kinh tế. Xu hướng hội nhập nền kinh tế của nước ta vào nền kinh tế thế giới, mở rộng hợp tác, giao lưu quốc tế.
Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc ổn định môi trường chính trị, xã hội, tạo cơ hội tốt cho nền kinh tế phát triển, thu hút đầu tư nước ngoài. Do định hướng phát triển kinh tế nước ta là phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước nên quản lý nhà nước (QLNN) đối với nền kinh tế là tất yếu khách quan. Chỉ có Nhà nước mới có đủ sức mạnh, cơ sở vật chất để thực hiện chức năng quản lý nền kinh tế. Ngành kinh doanh du lịch giống như một cơ thể sống, luôn đòi hỏi sự quản lý sáng tạo để duy trì phát triển.
Thành công hay thất bại của ngành du lịch cũng như nhu cầu nền kinh tế của một nước phụ thuộc vào việc xây dựng sáng tạo những chính sách thích hợp với điều kiện, trình độ phát triển của một đất nước. QLNN về du lịch là một vấn đề cần thiết được đặt lên hàng đầu. Du lịch mới trong giai đoạn đầu phát triển, còn gặp nhiều khó khăn, thách thức lớn; nên rất cần sự tham gia chỉ đạo, định hướng của Nhà nước để du lịch phát triển. Vì vậy, quản lý du lịch trong nền kinh tế thị trường của Nhà nước là cần thiết và khách quan: (1) Do những khuyết tật, hạn chế của cơ chế thị trường, do Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, thể hiện ở việc định hướng phát triển kinh tế - xã hội và ngành kinh tế du lịch trong từng thời kỳ.
(2) Để giải quyết các mâu thuẫn của kinh tế thị trường, duy trì sự ổn định, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế. (3) Tạo sự thống nhất trong tổ chức, phối hợp các hoạt động của cơ quan QLNN về du lịch. Đồng thời, giúp khai thác các thế mạnh của từng vùng, địa phương đạt kết quả. Phát huy lợi thế so sánh của quốc gia trong phát triển du lịch quốc tế.
(4) Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta. Nó liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau do vậy rất cần 2 luan an sự quản lý của Nhà nước điều hòa mối quan hệ giữa du lịch với các ngành, lĩnh vực liên quan. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng đất giàu tiềm năng, lợi thế về du lịch, các tỉnh, thành ĐBSCL đang nỗ lực đẩy mạnh phát triển du lịch, đặc biệt là xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù. So với tiềm năng của vùng ĐBSCL, kết quả thu hút, phát triển du lịch vẫn chưa đạt như mong muốn, chưa tương xứng với tiềm năng.
Điều này có thể thấy rõ trong 6 tháng đầu năm 2018, vùng ĐBSCL chỉ đón được gần 1,6 triệu trong tổng số hơn 7,8 triệu lượt du khách quốc tế đến Việt Nam. Theo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng ĐBSCL đến năm 2020, vùng sẽ đón khoảng 34 triệu lượt khách, trong đó 3,5 triệu lượt khách quốc tế và đạt 25.000 tỷ đồng doanh thu. Phấn đấu đến năm 2030 đón khoảng 52 triệu lượt khách, trong đó có khoảng 6,5 triệu lượt khách quốc tế [101]. Để đạt được mục tiêu, đòi hỏi sự phấn đấu của tất cả cá nhân, cơ quan, tổ chức từ trung ương đến địa phương, quan trọng hơn hết là có sự tham gia quản lý về du lịch của Nhà nước để có định hướng, tổ chức thực hiện, kiểm tra quá trình phát triển du lịch tại ĐBSCL.
Việc tìm hiểu thực trạng QLNN về du lịch tại ĐBSCL sẽ cho thấy rõ những điểm mạnh, những hạn chế còn tồn tại trong quá trình QLNN về du lịch tại các địa phương này để từ đó có thể đưa ra đề xuất và thực hiện một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về du lịch tại ĐBSCL. Chính bởi lẽ những lý do đó nên rất cần thiết có một đề tài luận án nghiên cứu: “Quản lý nhà nước về du lịch tại Đồng bằng sông Cửu Long”. Sự cần thiết này bắt nguồn từ thực tiễn sự phát triển du lịch và vai trò không thể thiếu của QLNN về du lịch tại ĐBSCL. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2.
Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của QLNN về du lịch khu vực ĐBSCL để đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN về du lịch trên địa bàn vùng ĐBSCL trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận án thực hiện những nhiệm vụ sau đây: Thứ nhất, hệ thống hóa, đánh giá tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu, từ đó xác định những vấn đề mà luận án sẽ kế thừa cũng như những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu. Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về du lịch của vùng ĐBSCL, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và những nguyên nhân chủ yếu của tình hình, đặc biệt là quản lý của chính quyền các tỉnh, thành phố trong vùng ĐBSCL. Thứ ba, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN về du lịch của vùng ĐBSCL, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Thứ tư, đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN về du lịch vùng ĐBSCL và luận giải các điều kiện, kiến nghị các cơ quan chức năng hoàn thiện QLNN về du lịch của vùng ĐBSCL. Câu hỏi nghiên cứu Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, luận án cần giải quyết những câu hỏi nghiên cứu cơ bản sau đây: - Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu như thế nào? - Quản lý nhà nước về du lịch tại ĐBSCL dựa trên những cơ sở khoa học nào? - Quản lý nhà nước về du lịch tại ĐBSCL có những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của điểm mạnh và điểm yếu là gì? - Giải pháp và kiến nghị nào để hoàn thiện QLNN về du lịch tại vùng ĐBSCL? 4 luan an 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là Quản lý nhà nước về du lịch tại Đồng bằng sông Cửu Long, trong khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ được phân cấp cho chính quyền cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) dưới góc độ quản lý kinh tế.
Phạm vi nghiên cứu 4. Phạm vi về nội dung Phạm vi về nội dung nghiên cứu là tập trung làm rõ những nội dung QLNN về du lịch tại ĐBSCL, trong đó chú trọng việc hoạch định phát triển các hoạt động du lịch tại vùng ĐBSCL; xây dựng và triển khai thực hiện cơ chế, chính sách về hoạt động du lịch trên địa bàn; tổ chức hoạt động du lịch; phát triển kết cấu hạ tầng du lịch trên địa bàn; khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở kinh doanh du lịch trên địa bàn và kiểm tra, kiểm soát hoạt động du lịch trên địa bàn.