phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách Nhà nƣớc. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ xây dựng bản từ nguồn ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn huyện Lƣơng Tài, tỉnh Bắc Ninh. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn huyện Lƣơng Tài, tỉnh Bắc Ninh. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.
Đầu tƣ xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc 1. Đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái niệm đầu tư Có rất nhiều quan niệm về đầu tƣ, nhƣng hiểu theo cách chung nhất, theo nghĩa rộng: “Đầu tƣ là quá trình hy sinh các nguồn lực ở thời điểm hiện tại nhằm mục đích thu đƣợc những kết quả lớn hơn trong tƣơng lai”. Các nguồn lực sử dụng trong quá trình đầu tƣ rất đa dạng và phong phú, không chỉ vốn bằng tiền mà còn bao gồm các nguồn lực khác nhƣ sức lao động, máy móc, công nghệ, tài sản vật chất hay thậm chí thời gian….
Trên giác độ kinh tế, đầu tƣ kinh tế là sự hy sinh giá trị hiện tại gắn với việc tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế quốc dân của một nƣớc, hoặc một địa phƣơng. Nhƣ vậy bất kỳ hoạt động bỏ vốn nào nhằm mục đích thu hiệu quả cao hơn nhƣ: mua công trái, trái phiếu, cổ phiếu hay gửi tiết kiệm hoặc xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội, kinh doanh thƣơng mại, dịch vụ… đều đƣợc gọi là hoạt động đầu tƣ. Theo Luật Đầu tƣ số 67/2014/QH13 ngày 26/11/2014 của Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại Điều 3, khái niệm đầu tƣ đƣợc hiểu: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản Xây dựng cơ bản là các hoạt động nhằm tạo ra các TSCĐ có một năng lực sản xuất và phục vụ nhất định: nhƣ khảo sát, thiết kế, xây lắp… Xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân đƣợc thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh 8 tế.
XDCB là hoạt động khá phức tạp, thƣờng đƣợc thực hiện thông qua các dự án đầu tƣ, sản phẩm của nó là công trình xây dựng. Đầu tƣ xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tƣ phát triển. Đây chính là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định trong nền kinh tế. Đầu tƣ xây dựng cơ bản dẫn đến tích luỹ vốn, xây dựng thêm công trình giao thông, y tế, giáo dục, thủy lợi, trụ sở và mua sắm thiết bị có ích, làm tăng sản lƣợng tiềm năng của đất nƣớc và về lâu dài đƣa tới sự tăng truởng kinh tế.
Đặc điểm đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tƣ XDCB có vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội, là yếu tố quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân mỗi nƣớc, mỗi địa phƣơng; thúc đẩy sự tăng trƣởng và phát triển nền kinh tế đất nƣớc. Đặc trƣng của đầu tƣ XDCB là một ngành sản xuất vật chất đặc biệt; sản phẩm của hoạt động đầu tƣ XDCB cũng có những đặc điểm riêng, khác với sản phẩm hàng hóa của những ngành sản xuất vật chất khác và vốn đầu tƣ XDCB cũng có những đặc trƣng riêng khác với vốn kinh doanh của các ngành khác. - Đầu tư XDCB đòi hỏi vốn lớn, ứ đọng trong thời gian dài: Đầu tƣ XDCB đòi hỏi một số lƣợng tài chính, lao động, vật tƣ lớn. Nguồn vốn này nằm khê đọng trong suốt qúa trình đầu tƣ công trình.
Vì vậy trong quá trình đầu tƣ đòi hỏi phải có kế hoạch huy động và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn lao động, vật tƣ, thiết bị phù hợp đảm bảo cho công trình hoàn thành trong thời gian ngắn, chống lãng phí nguồn lực. - Thời kỳ đầu tư kéo dài: Thời kỳ đầu tƣ tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đƣa vào hoạt động. Nhiều công trình đầu tƣ có thời gian đầu tƣ kéo dài hàng chục năm. Do vốn lớn lại nằm khê đọng trong 9 suốt quá trình thực hiện đầu tƣ nên để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ, cần tiến hành phân kỳ đầu tƣ, bố trí vốn và các nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng hạng mục công trình, quản lý chặt chẽ tiến độ kế hoạch đầu tƣ, khắc phục tình trạng thiếu vốn, dừng dở dang, nợ đọng vốn đầu tƣ XDCB.
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: Thời gian vận hành các kết quả đầu tƣ tính từ khi đƣa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình. Các sản phẩm của đầu tƣ XDCB có giá trị sử dụng lâu dài. Trong suốt quá trình vận hành các thành quả đầu tƣ chịu tác động hai mặt, cả tích cực và tiêu cực của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội,… - Có tính chất cố định: Công trình XDCB sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó đƣợc tạo dựng cho nên các điều kiện về địa lý, địa hình có ảnh hƣởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tƣ, cũng nhƣ việc phát huy kết quả đầu tƣ. Vì vậy cần đƣợc bố trí hợp lý địa điểm xây dựng bảo đảm các yêu cầu về an ninh quốc phòng, phải phù hợp với kế hoạch, quy hoạch bố trí tại nơi có điều kiện thuận lợi, để khai thác lợi thế so sánh của vùng, quốc gia, đồng thời phải đảm bảo đƣợc sự phát triển cân đối của vùng lãnh thổ.
- Liên quan đến nhiều ngành: Để thực hiện xong một công trình XDCB đòi hỏi nhiều hoạt động rất phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Diễn ra không những ở phạm vi một địa phƣơng mà còn nhiều địa phƣơng với nhau. Vì vậy, khi tiến hành các hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong quản lý quá trình đầu tƣ, bên cạnh đó phải quy định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tƣ, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo đƣợc tính tập trung dân chủ trong quá trình thực hiện đầu tƣ. Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản Nhìn một cách tổng quát, đầu tƣ Xây dựng cơ bản trƣớc hết là hoạt động đầu tƣ nên cũng có những vai trò chung của hoạt động đầu tƣ nhƣ: tác động đến tổng cung và tổng cầu, tác động đến sự ổn định, tăng trƣởng và phát triển kinh tế, tăng cƣờng khả năng khoa học và công nghệ của đất nƣớc.
10 Ngoài ra với tính chất đặc thù của mình, đầu tƣ Xây dựng cơ bản là điều kiện trƣớc tiên và cần thiết cho phát triển nền kinh tế, có những ảnh hƣởng vai trò riêng đối với nền kinh tế và với từng cơ sở sản xuất. Cụ thể nhƣ sau: 1. Đầu tư xây dựng cơ bản là điều kiện phát triển các ngành kinh tế và thay đổi tỷ lệ cân đối giữa chúng Khi đầu tƣ xây dựng cơ bản đƣợc tăng cƣờng, cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành tăng sẽ làm tăng sức sản xuất vật chất và dịch vụ của ngành. Phát triển và hình thành những ngành mới để phục vụ nền kinh tế quốc dân.
Nhƣ vậy đầu tƣ xây dựng cơ bản đã làm thay đổi cơ cấu và quy mô phát triển của ngành kinh tế, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế. Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong nƣớc, tăng tích luỹ đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân lao động, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh tế - xã hội. Đầu tư xây dựng cơ bản ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Kinh nghiệm của nhiều nƣớc trên thế giới cho thấy, con đƣờng tất yếu để phát triển nhanh với tốc độ mong muốn thì phải tăng cƣờng đầu tƣ tạo ra sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Còn đối với các ngành nông lâm ngƣ nghiệp do những hạn chề về đất đai và khả năng sinh học để đạt đựơc tốc độ tăng trƣởng từ 5% đến 6 % là một điều khó khăn.
Nhƣ vậy chính sách đầu tƣ ảnh hƣởng đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế. Do vậy các ngành, các địa phƣơng trong nền kinh tế cần phải lập kế hoạch đầu tƣ dài hạn để phát triển ngành, vùng đảm bảo sự phát triển cân đối tổng thể, đồng thời có kế hoạch ngắn và trung hạn nhằm phát triển từng bƣớc và điều chỉnh sự phù hợp với mục tiêu đặt ra. Đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy, muốn giữ phát triển kinh tế ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tƣ phải đạt từ 15 % đến 20 % so với 11 GDP tuỳ thuộc vào hệ số ICOR của mỗi nƣớc. Nếu ICOR không đổi thì mức tăng GDP hoàn toàn phục thuộc vào vốn đầu tƣ.
ICOR là một chỉ số phản ánh hiệu quả đầu tƣ, cho biết để tạo ra 1 đồng GDP thì cần bao nhiêu đồng vốn. Nhƣ vậy, nếu ICOR thấp cho thấy để tạo ra 1 đồng GDP chỉ cần ít đồng vốn, nghĩa là việc sử dụng đồng vốn đầu tƣ có hiệu quả. Ngƣợc lại, nếu ICOR cao chứng tỏ rằng phải cần nhiều đồng vốn hơn mới tạo ra đƣợc 1 đồng GDP, hiệu quả đầu tƣ thấp. Ở các nƣớc đang phát triển, ICOR thƣờng lớn do tỷ trọng vốn đầu tƣ /GDP khá lớn, đồng thời việc sử dụng vốn lại rất kém hiệu quả.