phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo luận văn gồm 04 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về quản lý đối với sử dụng đất tại các khu công nghiệp Chƣơng 2. Thực trạng quản lý đối với sử dụng đất tại các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Chƣơng 4. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý đối với sử dụng đất tại các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỐI VỚI SỬ DỤNG ĐẤT TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1.
Khu công nghiệp và sử dụng đất tại khu công nghiệp 1. Khu công nghiệp 1. Khái niệm Khu công nghiệp (KCN) tập trung là một khu vực đƣợc xây dựng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó có sẵn các nhà máy và các dịch vụ tiện nghi cho con ngƣời sinh sống. Mục tiêu xây dựng các khu công nghiệp tập trung của nƣớc sở tại đƣợc thể hiện một số điểm sau: - Thu hút đầu tƣ trên quy mô lớn và phát triển kinh tế.
- Thúc đẩy xuất khẩu. - Tạo việc làm. - Tiếp nhận công nghệ, kinh nghiệm tác phong làm việc tiên tiến. - Phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Phát triển cơ sở hạ tầng. - Cân đối sự phát triển giữa các vùng. - Kiểm soát sự ô nhiễm môi trƣờng. Vai trò của các KCN - Tăng cƣờng khả năng thu hút đầu tƣ, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trƣởng kinh tế: Hầu hết các nƣớc đang ở thời kỳ đầu trong công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nƣớc đều phải gặp một bài toán nan giải là tình trạng thiếu vốn.
Thông qua những ƣu đãi đặc biệt so với sản xuất trong nƣớc các khu công nghiệp có đƣợc môi trƣờng đầu tƣ hấp dẫn, vì vậy nó có khả năng thu hút đƣợc nhiều vốn đầu tƣ đặc biệt là vốn FDI. Khu công nghiệp đã đóng góp đáng kể trong việc thu hút FDI. Chẳng hạn nhƣ Đài Loan và Malayxia, trong Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 6 những năm đầu phát triển, khu công nghiệp đã thu hút đƣợc 60% số vốn FDI. Đồng thời, các doanh nghiệp hoạt động trong các khu công nghiệp phần lớn là các đơn vị có tiềm năng.
Do đó hoạt động có hiệu quả góp phần vào các mục tiêu phát triển của đất nƣớc. Trong đó đáng kể nhất là việc góp phần đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ do việc phát triển sản xuất hàng xuất khẩu thay thế hàng nhập khẩu. Ỏ một số nƣớc, khu công nghiệp đã góp phần đáng kể cho việc đẩy mạnh xuất khẩu. Ví dụ nhƣ Malayxia, hiện nay giá trị xuất khẩu của các khu công nghiệp chiếm 30% trong tổng giá trị xuất khẩu của các sản phẩm chế biến, ở Mêhicô là 50%.
- Tạo ra mối liên kết giữa các ngành nghề: Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp đòi hỏi những nguồn cung cấp thƣờng xuyên nguyên vật liệu và dịch vụ đầu vào, điều này tạo ra mối liên hệ giữa các doanh nghiệp KCN và các doanh nghiệp kinh doanh khác. Việc đáp ứng các nguyên vật liệu và dịch vụ đầu vào với chất lƣợng cao và thƣờng xuyên sẽ là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp. Tại một số nƣớc tỷ lệ cung cấp một số đầu vào khá cao, nhƣ Hàn Quốc tỷ lệ sử dụng nguyên vật liệu trong nƣớc tăng từ 3% năm 1971 lên 34% năm 1979 và duy trì tỷ lệ này từ đó đến nay. - Khu công nghiệp là cơ sở tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ hiện đại, học hỏi phƣơng thức quản lý mới, nâng cao trình độ của ngƣời lao động.
Các khu công nghiệp khi thành lập đều đặt ra mục tiêu tiếp cận các công nghiệp hiện đại. Theo một nhà kinh tế phƣơng tây nhận định: việc thành lập các khu công nghiệp còn có ý nghĩa hơn là một sự thay đổi chính sách, bởi sự thay đổi chính sách từ bóp nghẹt sang cởi mở thông thoáng chỉ có ý nghĩa tối đa khi chuyển từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế thị trƣờng. Còn sự thực khi nền kinh tế đã hạn chế bớt đi các trói buộc phong kiến, hành chính thì điều có ý nghĩa hơn là một lại là một chính sách kỹ thuật và công nghệ khả dĩ đủ hấp dẫn để thu hút đƣợc các kỹ thuật và công nghệ mới của nƣớc ngoài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 7 vào sự tái thiết nền kinh tế nội địa. Bên cạnh đó các doanh nghiệp còn chú trọng vào công tác đào tạo cán bộ, công nhân cho phù hợp với trình độ của máy móc cũng nhƣ phƣơng thức kinh doanh mới.
Do vậy, trình độ của ngƣời lao động sẽ đƣợc nâng lên phù hợp với tác phong lao động công nghiệp. - Khu công nghiệp tạo thêm việc làm cho ngƣời lao động. Hầu hết các nƣớc đang phát triển trong quá trình phát triển kinh tế đều gặp phải tình huống khó xử: nếu theo đuổi mục tiêu toàn dụng nhân lực thì khó thực hiện mục tiêu chống lạm phát, đồng thời ƣớc muốn nền sản xuất xã hội đạt hiệu quả cao bằng cách du nhập các công nghệ tinh vi tức là ít sử dụng lao động sống thì sẽ làm gia tăng nạn thất nghiệp. Tuy chƣa phải là giải pháp lý tƣởng nhƣng việc thiết lập các khu công nghiệp là một cơ hội quan trọng để giải quyết mâu thuẫn này.
Theo ngân hàng thế giới châu Á là nơi tạo ra nhiều việc làm nhất. Sử dụng đất tại KCN 1. Các chủ thể sử dụng đất tại KCN Các chủ thể sử dụng đất tại khu công nghiệp gồm các tổ chức kinh tế, ngƣời Việt Nam định cƣ ở nƣớc ngoài; Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân đầu tƣ vào sản xuất, kinh doanh trong khu công nghiệp (sau đây gọi tắt là ngƣời sử dụng đất); Ngƣời sử dụng đất trong khu công nghiệp phải sử dụng đất đúng mục đích đã đƣợc xác định, đƣợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật Đất đai. Các tiêu chí đánh giá sử dụng đất tại KCN Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tƣ (KH và ĐT), cả nƣớc hiện có trên 260 khu công nghiệp (KCN) với tổng diện tích đất sử dụng khoảng 72.
Trong đó, 174 KCN đã đi vào hoạt động, chiếm trên 43.500 ha, 86 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản. Các KCN phân bố rộng khắp trên địa bàn 57 tỉnh, thành phố, tập trung chủ yếu ở 3 vùng kinh tế trọng điểm nhƣ phía Nam chiếm gần 48% tổng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ 8 số KCN, phía Bắc trên 20% và miền Trung xấp xỉ 10%. Tính đến cuối năm 2010, các KCN đã thu hút đƣợc trên 4.300 dự án đầu tƣ trong nƣớc với số vốn đăng ký 336.000 tỷ đồng và gần 4.000 dự án đầu tƣ nƣớc ngoài, với số vốn đăng ký 53,6 tỷ USD.800 dự án đang hoạt động sản xuất kinh doanh và đóng góp trên 25% GDP cả nƣớc, giá trị nhập khẩu đạt 18,5 tỷ USD, giá trị xuất khẩu đạt 19 tỷ USD và nộp ngân sách Nhà nƣớc 19.165 tỷ đồng và 344,37 triệu USD. Giá trị sản xuất công nghiệp bình quân trên 1 ha đất (đã cho thuê) đạt khoảng 1,6 triệu USD/ha/năm.
Các dự án đầu tƣ nƣớc ngoài cũng đã tạo việc làm mới cho hơn 1,6 triệu lao động trực tiếp và gần 1,8 triệu lao động gián tiếp. Quản lý đối với sử dụng đất tại các KCN 1. Khái niệm quản lý của nhà nước đối với sử dụng đất đai tại KCN Chủ thể quản lý là UBND tỉnh giao cho Ban Quản lý khu kinh tế là cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc trực tiếp đối với khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tƣ và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tƣ trong các khu công nghiệp; Tham gia ý kiến, xây dựng và trình các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện các công việc sau đây: - Tham gia ý kiến với các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, quy hoạch có liên quan đến hoạt động đầu tƣ, phát triển khu công nghiệp; Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng Quy chế phối hợp làm việc giữa Ban với các cơ quan có liên quan để thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn đƣợc giao theo cơ chế một cửa và một cửa liên thông, trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và tổ chức thực hiện; phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tƣ, các Sở, ngành có liên quan tham mƣu cho Ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng quy hoạch Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.