CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công công trình nghiên cứu Rượu là mặt hàng tiêu dùng đặc thù do đặc điểm về tính sẵn có của sản phẩm. Chính vì vậy, những vấn đề về rượu nói chung và quản lý nhà nước đối với kinh doanh rượu nói riêng được nhiều học giả, nhà nghiên cứu quan tâm. Trên thế giới hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý kinh doanh rượu đã được công bố.
Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài Liên quan đến vấn đề quản lý nhà nước về kinh doanh rượu nói chung và kinh doanh rượu nhập khẩu đã được nghiên cứu khá phổ biến ở nước ngoài, một số công trình nghiên cứu có thể kể đến là: - Analysis and Forecasts of the Demand for Imported Wine in China (Phân tích và dự báo nhu cầu rượu nhập khẩu ở Trung Quốc), (Anyu Liu and Haiyan Song, 2021). Mục đích của nghiên cứu này là để điều tra các yếu tố quyết định lâu dài đến nhu cầu rượu nhập khẩu của Trung Quốc và dự báo nhập khẩu rượu từ năm 2019 đến năm 2023 bằng cách sử dụng các phương pháp kinh tế lượng. Mô hình độ trễ phân phối tự động hồi quy được phát triển dựa trên lý thuyết nhu cầu kinh tế tân cổ điển để điều tra các yếu tố quyết định lâu dài đối với nhu cầu nhập khẩu rượu vang đóng chai, số lượng lớn và rượu vang sủi bọt của Trung Quốc từ năm quốc gia xuất xứ hàng đầu. Những kết quả chủ yếu của công trình này là: (2) Kết luật rằng, thu nhập là yếu tố quyết định quan trọng nhất đối với nhu cầu rượu nhập khẩu của Trung Quốc và giá cả chỉ đóng một vai trò quan trọng trong một số thị trường; (2) Nhu cầu rượu vang nhập khẩu của Trung Quốc dự kiến sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh trong giai đoạn dự báo.
(3) Rượu đóng chai sẽ tiếp tục thống trị thị trường rượu nhập khẩu của Trung m 10 Quốc. (4) Pháp sẽ có thị phần lớn nhất trong thị trường rượu vang đóng chai, Tây Ban Nha sẽ là nhà cung cấp rượu vang số lượng lớn lớn nhất, và Ý sẽ giữ vị trí tương tự đối với rượu vang sủi bọt. Đây là nghiên cứu đầu tiên sử dụng một phương trình duy nhất với phương pháp từ tổng quát đến cụ thể thay vì một hệ phương trình để ước tính và dự báo nhu cầu của Trung Quốc đối với rượu vang đóng chai, số lượng lớn và rượu vang sủi nhập khẩu từ các quốc gia xuất xứ khác nhau. Việc khảo cứu công trình này có ý nghĩa lớn trong việc đánh giá nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm rượu nhập khẩu ở Việt Nam.
Tuy nhiên, đây là một nghiên cứu thực tiễn đối với thị trường rượu nhập khẩu của Trung Quốc, do vậy việc kết thừa kết quả nghiên cứu này trong luận án là rất hạn chế. Luận án sẽ kế thừa kết luận rút ra từ điều tra của nghiên cứu này nguyên nhân dẫn đến mức tiêu thụ rượu nhập khẩu của một quốc gia là do “thu nhập tăng” đển vận dụng đánh giá các chính sách về thuế và giá của Việt Nam đối với rượu nhập khẩu. - Package graphic design and communication across cultures: An investigation of Chinese consumers' interpretation of imported wine labels” (Thiết kế sinh động bao bì và giao tiếp giữa các nền văn hóa: Một cuộc điều tra về cách giải thích của người tiêu dùng Trung Quốc đối với nhãn rượu nhập khẩu), (Franck Celhay, Peiyao Cheng, Josselin Masson và Wenhua Li, 2020). Công trình nghiên cứu thiết kế sinh động bao bì là một công cụ mạnh mẽ để truyền thông thương hiệu.
Tuy nhiên, một câu hỏi quan trọng là làm thế nào các thiết kế được hiểu giữa các nền văn hóa. Nghiên cứu này đề xuất rằng các bao bì sử dụng các dấu hiệu có động lực về thiết kế sinh động có nhiều khả năng dễ hiểu hơn giữa các nền văn hóa so với các bao bì sử dụng các dấu hiệu tùy ý. Kế quả nghiên cứu chỉ ra rằng các nhãn được phân loại là động lực thúc đẩy thành công trong truyền đạt ý nghĩa thương hiệu mong muốn đối với người tiêu dùng Trung Quốc, ngay cả khi họ không quen thuộc với văn hóa thương hiệu rượu vang. Nghiên cứu trình bày đóng góp về mặt lý thuyết bằng cách đưa ra khái m 11 niệm động lực dấu hiệu đối với tài liệu tiếp thị và làm mờ đi giả định cổ điển cho rằng các dấu hiệu thị giác truyền tải ý nghĩa khác nhau giữa các nền văn hóa.
Đồng thời thể hiện đóng góp về quản lý bằng cách trình bày khung khái niệm và phương pháp luận để phân tích xem liệu một thiết kế sinh động có khả thi dễ hiểu giữa các nền văn hóa hay không. Do đó, cung cấp các hướng dẫn cho việc thiết kế các bao bì cho thị trường quốc tế. Điểm chung của nghiên cứu này là nhằm đưa ra giải pháp thiết kế bao bi, nhãn hiệu đối với rượu qua điều tra người tiêu dùng ở Trung Quốc. Ý nghía vận dụng của nghiên cứu này đối với luận án là không lớn.
Tuy nhiên, những ý kết luận của nghiên cứu này có ý nghĩa trong việc phân tích đánh giá các quy định về nhãn rượu nhập khẩu của Việt Nam. - Consumer Responses to Price Shocks of Wine Imports in Korea” (Phản ứng của người tiêu dùng đối với cú sốc giá rượu nhập khẩu ở Hàn Quốc), (Chul Chung, Min-chirl Chung và Bonggeun Kim, 2020). Mục đích chính của nghiên cứu là phát triển một phương pháp luận phân chia các phản ứng của người tiêu dùng đối với các Hiệp định thương mại tự do hoặc thuế hàng hóa thành định lượng và định tính, gây ra sự thay đổi giá ngoại sinh đối với một số hàng hóa cụ thể. Việc sử dụng giá trị đơn vị như một biến phụ thuộc cho sự lựa chọn định tính của người tiêu dùng, không giống như thông thường phương pháp sử dụng các giá trị đơn vị như một biến đại diện cho giá thị trường.
Nghiên cứu đã cho thấy rằng phản ứng định tính đối với sự thay đổi giá tồn tại và quy mô của nó là đáng kể. Phương pháp quan trọng của việc phân tách và ước tính các phản ứng định tính đối với những thay đổi về thu nhập như trong các cuộc khủng hoảng kinh tế cũng được trình bày, đồng thời phân tích thực nghiệm sử dụng phương pháp luận này cho thấy rằng phần lớn các tác động thu nhập hiện có là các phản ứng định tính. Như một kết quả chính, độ co giãn của giá -1,178 được ước tính theo mô hình cầu thông thường dựa trên một giả định hàng hóa đơn lẻ được m 12 giảm xuống -0,712 đối với biên định lượng duy nhất, và tỷ suất lợi nhuận định tính là -0,466 còn lại, chiếm nhiều hơn một phần ba của phản hồi tổng thể. Mức độ đáng kể của các phản ứng định tính cho thấy các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu nên coi việc tái bảo trợ định tính là một yếu tố quan trọng khi phân tích hiệu quả của các FTA, đặc biệt về tiêu dùng.
Trên cơ sở nghiên cứu định tính, các tác giả đã đưa kết luận và hàm ý chính sách đối với mặt hàng rượu ở nước này. Nghiên cứu này sẽ hữu dụng trong việc phân tích chính sách giá, thuế rượu nhập khẩu của Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện chính sách thuế liên quan đến rượu nhập khẩu ở Việt Nam. - Verification of imported red wine origin into China using multi isotope and elemental analyses” (Xác minh nguồn gốc rượu vang đỏ nhập khẩu vào Trung Quốc bằng cách sử dụng nhiều phân tích đồng vị và nguyên tố), (Hao Wu, Ling Tian, Bo Chen, Baohui Jin, Bin Tian, Liqi Xie, Karyne M.Rogers và Guanghui Lin, 2019). Công trình nghiên cứu các phân tích đa đồng vị và đa nguyên tố đã được thực hiện trên 600 mẫu rượu vang đỏ được nhập khẩu vào Trung Quốc từ 7 quốc gia khác nhau và so với rượu vang Trung Quốc.
Đồng vị carbon và oxy và 16 nguyên tố đã được sử dụng để xác định truy xuất nguồn gốc. Mục tiêu của bài báo nghiên cứu là xây dựng một công cụ phân loại bằng cách sử dụng mô hình dữ liệu có thể xác minh nguồn gốc địa lý của các loại rượu vang được nhập khẩu vào Trung Quốc. Các phân tích đa biến về dữ liệu đồng vị và nguyên tố cho thấy có thể xác định nguồn gốc địa lý của hầu hết các loại rượu nhập khẩu với độ tin cậy cao (> 90%). Tóm lại, phân tích đồng vị và nguyên tố vi lượng ổn định sau khi xử lý dữ liệu đa biến là một kỹ thuật nhanh và hiệu quả phù hợp với truy xuất nguồn gốc rượu vang toàn cầu.
Nghiên cứu này có thể hữu ích trong việc xác định xuất xứ đối với rượu nhập khẩu của Việt Nam. m 13 - Discrimination of wine from grape cultivated in Japan, imported wine, and others by multi-elemental analysis” (Phân biệt rượu vang từ nho trồng ở Nhật Bản, rượu vang nhập khẩu và các loại khác bằng phân tích đa nguyên tố) (Hideaki Shimizu, Fumikazu Akamatsu, Aya Kamada, Kazuya Koyama, Masaki Okuda, Hisashi Fukuda, Kazuhiro Iwashita, Nami Goto-Yamamoto, 2018). Công trình nghiên cứu sự khác biệt về nồng độ khoáng chất đã được kiểm tra giữa ba loại rượu vang ở thị trường Nhật Bản: rượu vang Nhật Bản, rượu vang nhập khẩu và rượu vang sản xuất trong nước chủ yếu từ các thành phần nước ngoài (DWF), nơi rượu vang Nhật Bản gần đây được Cơ quan thuế quốc gia xác định là sản xuất trong nước rượu vang từ nho được trồng ở Nhật Bản. Mục tiêu chính của nghiên cứu này là kiểm tra khả năng kiểm soát tính xác thực của rượu vang Nhật Bản.
Nồng độ của 18 khoáng chất (Li, B, Na, Mg, Si, P, S, K, Ca, Mn, Co, Ni, Ga, Rb, Sr, Mo, Ba và Pb) trong 214 mẫu rượu được xác định bởi phương pháp quang phổ khối plasma kết hợp cảm ứng (ICP-MS) và quang phổ phát xạ nguyên tử ICP (ICP-AES). Nhìn chung, rượu vang Nhật Bản có nồng độ kali cao hơn và nồng độ tám nguyên tố (Li, B, Na, Si, S, Co, Sr và Pb) thấp hơn so với hai nhóm rượu khác. Các mô hình phân tích phân biệt tuyến tính (LDA) dựa trên nồng độ của 18 khoáng chất tạo điều kiện cho việc xác định ba nhóm rượu: rượu vang Nhật Bản, rượu vang nhập khẩu và DWF với điểm số phân loại 91,1% và điểm dự đoán 87,9%.