Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Quản lý nhà nước đối với bán hàng trực tuyến ở Việt Nam" được tác giả Nguyễn Minh Phương thực hiện tại Trường Đại học Thương mại, thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số: 9310110), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Hoàng và PGS.TS. Trần Kiều Trang, bảo vệ năm 2024.

Tính cấp thiết của luận án xuất phát từ sự bùng nổ của hoạt động bán hàng trực tuyến (BHTT) trên phạm vi toàn cầu và tại Việt Nam. Trên thế giới, các giao dịch thương mại điện tử (TMĐT) và BHTT phát triển mạnh mẽ từ những nền tảng ban đầu như Amazon (1994), eBay (1995) cho đến Alibaba (2014), với sự chuyển dịch sang thiết bị di động chiếm hơn 50% giao dịch toàn cầu (Statista, 2022) và quy mô thị trường đạt 5,5 nghìn tỷ USD vào năm 2023. Tại Việt Nam, quá trình BHTT khởi đầu từ những năm 2000 với các trang rao vặt sơ khai (5giay.com, muare), tiếp nối bởi sự xuất hiện của Lazada (2010), Tiki (2012), Shopee (2015) cùng hạ tầng thanh toán số như ví MoMo, ZaloPay (2014). Đại dịch COVID-19 đã thúc đẩy sức mua trực tuyến tăng 46%, đưa doanh thu BHTT đạt 11,8 tỷ USD vào năm 2020, tăng lên 16,4 tỷ USD năm 2022 và đạt 20,5 tỷ USD vào năm 2023. Theo số liệu của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM, 2023), Việt Nam đứng thứ hai tại khu vực Đông Nam Á về quy mô thị trường TMĐT, chỉ sau Indonesia.

Bên cạnh các lợi ích kinh tế, hoạt động BHTT làm phát sinh nhiều bất cập: sự cạnh tranh gay gắt; tình trạng hàng giả, hàng nhái tràn lan làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng; rủi ro an ninh mạng, lừa đảo, lộ lọt dữ liệu cá nhân; chi phí logistics cao; cùng khó khăn trong việc tuân thủ các quy định pháp luật chồng chéo. Về phía cơ quan quản lý, hệ thống thể chế chưa theo kịp tốc độ phát triển của các mô hình kinh doanh số; hạ tầng kỹ thuật đối mặt nguy cơ mất an toàn dữ liệu; đặc biệt là công tác quản lý thu thuế gặp vướng mắc lớn trong việc định danh đối tượng nộp thuế và xác định giá trị giao dịch, dẫn đến nguy cơ thất thu và gian lận thuế.

Văn bản luận án chỉ ra khoảng trống nghiên cứu rõ rệt: các công trình trước đây đa phần tiếp cận TMĐT nói chung, nghiên cứu đơn lẻ về hạ tầng hoặc khía cạnh pháp luật, thiếu vắng các nghiên cứu tiếp cận trực tiếp công tác quản lý nhà nước (QLNN) đối với BHTT theo hướng kết hợp đồng bộ công cụ và chức năng quản lý; các nghiên cứu chủ yếu thực hiện trước giai đoạn dịch COVID-19 nên chưa phản ánh bối cảnh kinh tế số hiện nay; các công bố gần đây phần lớn là bài báo khoa học tập trung vào từng khía cạnh hẹp, thiếu hệ thống tiêu chí định lượng để đánh giá chất lượng QLNN đối với BHTT.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định như sau:

  • Mục tiêu chung: Đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện QLNN đối với BHTT ở Việt Nam đến năm 2030.
  • Ba mục tiêu cụ thể: (1) Hệ thống hóa và làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về QLNN đối với BHTT. (2) Phân tích và đánh giá thực trạng QLNN đối với BHTT ở Việt Nam, qua đó đánh giá những thành công, hạn chế và nguyên nhân của chúng. (3) Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN đối với BHTT ở Việt Nam đến năm 2030.

Năm nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:

  • Một là: Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước để xây dựng khung lý luận về QLNN đối với BHTT, tập trung vào lý luận cơ sở, nội dung QLNN đối với BHTT, các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng.
  • Hai là: Nghiên cứu kinh nghiệm QLNN đối với BHTT ở một số quốc gia trên thế giới và rút ra bài học tham khảo cho Việt Nam.
  • Ba là: Thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thông qua khảo sát các doanh nghiệp BHTT và cán bộ QLNN; phân tích, đánh giá thực trạng QLNN đối với BHTT ở Việt Nam, chỉ ra thành công, hạn chế và nguyên nhân.
  • Bốn là: Căn cứ chiến lược phát triển kinh tế số, phát triển thương mại và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, kết hợp xu hướng và dự báo phát triển BHTT để đề xuất quan điểm, định hướng hoàn thiện QLNN đối với BHTT đến năm 2030.
  • Năm là: Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với BHTT ở Việt Nam đến năm 2030.

Ba câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Nội dung của QLNN đối với BHTT là gì? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến QLNN đối với BHTT và tiêu chí nào được sử dụng để đánh giá QLNN đối với BHTT?
  • Câu hỏi 2: Thực trạng QLNN đối với BHTT ở Việt Nam như thế nào? Những thành công đã đạt được và hạn chế còn tồn tại của QLNN đối với BHTT ở Việt Nam là gì? Nguyên nhân của những thành công, hạn chế đó là gì?
  • Câu hỏi 3: Cần có những giải pháp nào để hoàn thiện công tác QLNN đối với BHTT ở Việt Nam nhằm đạt các mục tiêu phát triển BHTT đến năm 2030?

Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về QLNN đối với BHTT theo mô hình Doanh nghiệp tới Người tiêu dùng (B2C) trên các nền tảng mạng xã hội (MXH), website và sàn TMĐT ở Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Về nội dung: Đánh giá theo cách tiếp cận hỗn hợp công cụ và chức năng quản lý trên 4 nội dung: (i) Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển BHTT; (ii) Xây dựng chính sách và ban hành văn bản pháp luật QLNN đối với BHTT; (iii) Tổ chức triển khai chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển BHTT; (iv) Kiểm tra, giám sát BHTT. Đánh giá chất lượng QLNN qua 5 tiêu chí: (i) Tính hiệu lực; (ii) Tính hiệu quả; (iii) Tính phù hợp; (iv) Tính đồng bộ, hệ thống và thống nhất; (v) Tính minh bạch và công bằng. Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng gồm nhóm yếu tố bên trong và nhóm yếu tố bên ngoài. Luận án giới hạn nghiên cứu các văn bản do cơ quan Nhà nước cấp Trung ương ban hành, không nghiên cứu văn bản đặc thù của chính quyền địa phương.
  • Về thời gian: Phân tích thực trạng từ năm 2016 đến năm 2023 (năm 2016 đánh dấu thời điểm triển khai các kế hoạch phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn mới). Các định hướng và giải pháp được đề xuất áp dụng cho giai đoạn từ năm 2024 đến năm 2030, phù hợp với Quyết định số 411/QĐ-TTg và Quyết định số 1163/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
  • Về không gian: Nghiên cứu hoạt động BHTT tại Việt Nam, tập trung khảo sát tại 10 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tham khảo kinh nghiệm quốc tế tại Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc và Singapore.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả cấu trúc theo các nhóm hướng nghiên cứu chính:

Hướng nghiên cứu về BHTT và hành vi mua sắm trực tuyến: Khái niệm BHTT được tiếp cận dưới góc độ quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ qua Internet (Laudon và Traver, 2019; Hasslinger và cộng sự, 2007; Lui, 2012; The Economic Times, 2006). Đặc thù của BHTT gắn liền với các gian hàng ảo hoạt động 24/7 (Abbad và cộng sự, 2011; Lester và cộng sự, 2005; Yörük và cộng sự, 2011), thông tin mô tả qua đa phương tiện thay vì tiếp xúc vật lý trực tiếp, do đó tiềm ẩn rủi ro nhận thức cao hơn thương mại truyền thống (Laroche và cộng sự, 2005; Kolesar và Galbraith, 2000). Ý kiến phản hồi, xếp hạng và thông tin đa chiều trên mạng xã hội tác động mạnh mẽ đến quyết định mua hàng (Hennig-Thurau và Walsh, 2003; Lepkowska-White, 2013; Chatterjee, 2001; Clemons và cộng sự, 2006; ADMA, 2020; Nguyễn Thành Độ và Hà Ngọc Thắng, 2014). Tại các thị trường quốc tế, các công trình đi sâu vào động cơ và yếu tố thúc đẩy: Rong Li và cộng sự (2007) cùng Jin (2014) khảo sát vai trò của sự tin tưởng, chiến lược giá và logistics tại Trung Quốc; Ma Mengli (2011) nghiên cứu mức độ phổ biến của BHTT tại Thái Lan; Joongho Ahn và cộng sự (2001) xây dựng mô hình chấp nhận TMĐT (E-CAM) tích hợp mô hình TAM của Davis (1986) với thuyết rủi ro TPR của Bauer (1960) tại thị trường Mỹ và Hàn Quốc; Mihra Sita (2014) vận dụng lý thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991) tại Ấn Độ; Salehi Mehrdad (2012) phân tích các yếu tố tốc độ tải trang, an ninh và bố cục website tác động đến người tiêu dùng Malaysia.

Hướng nghiên cứu về QLNN đối với kinh tế và thương mại: Bản chất QLNN về kinh tế được phân tích là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước nhằm phân bổ hiệu quả các nguồn lực và định hướng thị trường (Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu, 2018; Phan Huy Đường, 2017; Nguyễn Tiến Thao, 2020). Nội dung QLNN theo chức năng và quá trình gồm hoạch định, tổ chức điều hành và kiểm soát (Hà Trọng Nghĩa, 2021; Vũ Thị Hồng Phương, 2021; Vũ Lan Hương, 2022; Lâm Đình Tuấn Hải, 2022). Trong lĩnh vực thương mại, Thân Danh Phúc và Hà Văn Sự (2015) xác lập bốn chức năng quản lý vĩ mô gồm hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát. Các luận án nghiên cứu chuyên ngành vận dụng nội dung quản lý hỗn hợp vào từng lĩnh vực cụ thể như: nông nghiệp công nghệ cao (Nguyễn Minh Tuân, 2012), xuất khẩu lao động (Nguyễn Xuân Hưng, 2015), dự án đối tác công - tư giao thông (Nguyễn Thị Hồng Minh, 2016), truyền hình trả tiền (Phạm Hoài Nam, 2017) và chính sách quản lý thu thuế (Phạm Bách Khoa, 2021).

Hướng nghiên cứu về QLNN đối với TMĐT và BHTT: Đào Anh Tuấn (2014) tiếp cận QLNN về TMĐT qua các nội dung xây dựng chiến lược, ban hành pháp luật, tổ chức thực hiện, kiểm soát và đề xuất tiêu chí đánh giá gồm hiệu lực, hiệu quả, phù hợp và bền vững. Nguyễn Đức Tài (2015) khảo sát hiệu lực quản lý nhà nước về an toàn TMĐT từ Trung ương đến địa phương. Về khía cạnh pháp lý, Hussein Riyadh và cộng sự (2019) dựa trên Luật mẫu UNCITRAL để đề xuất hoàn thiện chữ ký số và hợp đồng điện tử; Lin Peiyuan (2019) so sánh khung pháp lý TMĐT giữa châu Âu và Trung Quốc; Smith (2016, 2019) cùng John A. Rothchild (2016) phân tích các quy định quốc tế về bảo mật, sở hữu trí tuệ, quyền riêng tư và giải quyết tranh chấp trực tuyến; tại Việt Nam, Nguyễn Thị Mơ (2006) và Trần Văn Biên (2012) nghiên cứu chế định pháp luật về giao kết và giải quyết tranh chấp hợp đồng điện tử.

Về quản lý thuế đối với BHTT, các nghiên cứu của Nasrullah và Amalia (2020), Nadiah Abd Hamid (2019), Maarten Siglé và cộng sự (2018), Aizhen Li (2018), James Alm và cộng sự (2021) cùng Phạm Nữ Mai Anh (2019) chỉ ra các thách thức lớn như khó xác định địa điểm giao dịch và căn cứ tính thuế, thiếu hụt công cụ giám sát dòng tiền, đồng thời chứng minh các yếu tố tác động đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp gồm nhận thức, sự tin tưởng vào cơ quan thuế, mức độ kiểm soát và các chế tài cưỡng chế. Về kiểm soát gian lận, Padmalatha NA (2020), Brian Craig (2019), Peter Goodhart (2019) và Faisal Alanezi (2015) nhận diện các hành vi gian lận qua quảng cáo trực tuyến, thanh toán và vi phạm sở hữu trí tuệ, qua đó đề xuất giải pháp kỹ thuật kết hợp chế tài hành chính, hình sự. Về chính sách phát triển, Richard Kingson (2001) và Tan Chia Han (2021) nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái kết nối và chính sách đào tạo nguồn nhân lực số.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:

  • Thứ nhất: Chưa có công trình nào nghiên cứu QLNN đối với BHTT theo cách tiếp cận hỗn hợp kết hợp giữa công cụ và quá trình quản lý (gồm: xây dựng chiến lược, kế hoạch; xây dựng chính sách, pháp luật; tổ chức thực hiện; kiểm tra, giám sát) trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
  • Thứ hai: Chưa có công trình xây dựng hệ thống 5 tiêu chí đánh giá chất lượng QLNN đối với BHTT (hiệu lực; hiệu quả; phù hợp; đồng bộ, hệ thống và thống nhất; minh bạch và công bằng) và kiểm định bằng dữ liệu sơ cấp từ các bên liên quan.
  • Thứ ba: Các nghiên cứu trước đây chủ yếu thực hiện trong giai đoạn trước năm 2014 hoặc trước đại dịch COVID-19, chưa bao quát các văn bản chính sách mới ban hành như Nghị định 85/2021/NĐ-CP, Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15, Quyết định số 645/QĐ-TTg, Quyết định số 411/QĐ-TTg, Quyết định số 1163/QĐ-TTg và Công điện số 56/CĐ-TTg (2024). Luận án là công trình chuyên sâu đầu tiên đánh giá thực trạng giai đoạn 2016-2023 và xây dựng giải pháp đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích: Luận án kế thừa định nghĩa bán hàng của Nguyễn Thị Tuyết Mai (2019) và xác lập khái niệm: QLNN đối với BHTT là "quá trình Nhà nước thông qua các công cụ chiến lược, kế hoạch, chính sách, các công cụ quản lý kinh tế khác của mình để tác động lên BHTT nhằm đạt được mục tiêu phát triển KT-XH đặt ra trong điều kiện nhất định".

  • Chủ thể quản lý: Chính phủ (quản lý vĩ mô cao nhất); các Bộ, cơ quan ngang Bộ chuyên trách (Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính); chính quyền địa phương các cấp; cơ quan thanh tra và lực lượng Quản lý thị trường.
  • Đối tượng bị quản lý: Các doanh nghiệp BHTT (gồm các sàn TMĐT như Shopee, Lazada, Tiki và các doanh nghiệp bán lẻ qua website, MXH); người tiêu dùng (đối tượng thụ hưởng và bảo vệ quyền lợi); các tổ chức trung gian cung cấp dịch vụ công nghệ, trung gian thanh toán và dịch vụ logistics.
  • Bốn nội dung QLNN theo tiếp cận hỗn hợp công cụ và chức năng: (1) Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển BHTT (chiến lược cấp quốc gia, kế hoạch phát triển trung hạn 3-5 năm, kế hoạch hàng năm). (2) Xây dựng chính sách và ban hành văn bản pháp luật đối với BHTT (chính sách thương nhân, chính sách bảo vệ người tiêu dùng, chính sách thuế, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách phát triển hạ tầng công nghệ và thanh toán; ban hành quy định thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu và chữ ký điện tử). (3) Tổ chức triển khai chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển BHTT. (4) Kiểm tra, giám sát BHTT.
  • Năm tiêu chí đánh giá chất lượng QLNN: Tính hiệu lực; Tính hiệu quả; Tính phù hợp; Tính đồng bộ, hệ thống và thống nhất; Tính minh bạch và công bằng.
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN: Nhóm yếu tố bên trong (bộ máy quản lý, năng lực cán bộ, nguồn lực tài chính, cơ chế phối hợp liên ngành) và Nhóm yếu tố bên ngoài (sự phát triển công nghệ số, môi trường kinh tế - thị trường, hành vi người tiêu dùng, hội nhập và cam kết quốc tế).

Phương pháp nghiên cứu: Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp:

  • Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các văn bản quy phạm pháp luật (Nghị quyết, Luật, Nghị định, Quyết định, Thông tư); báo cáo thường niên TMĐT của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương) giai đoạn 2016-2023; Báo cáo chỉ số TMĐT (EBI) của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM); số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê; Báo cáo TMĐT trên MXH của VCCI; Sách trắng Doanh nghiệp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; các báo cáo và kỷ yếu khoa học liên quan.
  • Dữ liệu sơ cấp: Được thu thập thông qua khảo sát bằng bảng hỏi kết hợp câu hỏi đóng và câu hỏi mở, tiến hành từ tháng 6/2022 đến tháng 8/2022 tại 10 tỉnh, thành phố có chỉ số TMĐT dẫn đầu cả nước (TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Hải Phòng, Nam Định, Cần Thơ, Đồng Tháp, Phú Thọ, Đồng Nai, Bắc Ninh). Thang đo sử dụng là thang đo Likert 5 mức độ (1: Rất không đồng ý/Rất không hài lòng; 2: Không đồng ý/Không hài lòng; 3: Trung lập/Không ý kiến; 4: Đồng ý/Rất hài lòng; 5: Hoàn toàn đồng ý).
  • Chọn mẫu và quy mô mẫu: Áp dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện, tham khảo quy tắc kích thước mẫu của Hair và cộng sự (2014) cùng Bollen (1989) với tỷ lệ tối thiểu $n \ge 5 \times k$ ($k$ là số biến quan sát). Bảng hỏi doanh nghiệp có 50 biến quan sát, yêu cầu cỡ mẫu tối thiểu là 250:
    • Đối với doanh nghiệp BHTT: Khảo sát tại 100 doanh nghiệp BHTT thuộc 10 tỉnh/thành phố. Tổng số phiếu phát ra là 468 phiếu, thu về 440 phiếu hợp lệ đạt giá trị thống kê.
    • Đối với cán bộ QLNN: Khảo sát tại các cơ quan gồm Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, VECOM và Sở Công Thương 10 tỉnh/thành phố. Tổng số phiếu phát ra là 80 phiếu, thu về 60 phiếu hợp lệ đạt giá trị thống kê.

Bảng tổng hợp phân bổ mẫu khảo sát doanh nghiệp BHTT tại 10 địa phương:

STT Địa phương Chỉ số EBI năm 2022 Số phiếu phát ra Số phiếu thu về
1 TP. Hồ Chí Minh 85,3 55 53
2 Hà Nội 80,4 60 58
3 Bình Dương 21,6 58 55
4 Hải Phòng 15,9 48 46
5 Nam Định 15,7 45 40
6 Cần Thơ 15,1 44 42
7 Đồng Tháp 14,2 42 36
8 Phú Thọ 14,1 40 39
9 Đồng Nai 14,0 38 35
10 Bắc Ninh 14,0 38 36
Tổng 468 440

Công cụ và kỹ thuật phân tích: Luận án sử dụng phần mềm Microsoft Excel để nhập liệu và phần mềm IBM SPSS 22.0 để xử lý thống kê mô tả, tính toán điểm trung bình (Mean Score) và độ lệch chuẩn (Standard Deviation - SD). Điểm trung bình được tính theo công thức: $$\text{Điểm trung bình} = \frac{\sum (\text{Điểm mỗi câu trả lời})}{\text{Số lượng câu trả lời}}$$ Độ lệch chuẩn được xác định nhằm đo lường mức độ đồng thuận hoặc phân tán trong ý kiến phản hồi: $$\text{Độ lệch chuẩn} = \sqrt{\frac{\sum (X_i - \bar{X})^2}{N}}$$ Trong đó: $X_i$ là điểm của mỗi câu trả lời, $\bar{X}$ là điểm trung bình và $N$ là tổng số phản hồi. Độ lệch chuẩn dưới 1 thể hiện tính nhất trí cao; trên 1 thể hiện mức độ phân tán ý kiến rộng. Bên cạnh đó, luận án kết hợp phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê so sánh để đối chiếu dữ liệu BHTT qua các năm và so sánh kinh nghiệm quản lý quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến BHTT, QLNN về kinh tế, thương mại, TMĐT, quản lý thuế, gian lận thương mại và chính sách phát triển BHTT. Trên cơ sở đó, luận án xác định 3 khoảng trống nghiên cứu then chốt mà đề tài lựa chọn giải quyết. Tiếp đó, tác giả thiết lập khung nghiên cứu tổng thể, chi tiết hóa phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp (báo cáo của Bộ Công Thương, VECOM giai đoạn 2016-2023) và dữ liệu sơ cấp (thiết kế phiếu hỏi Likert 5 mức độ, xác định quy mô mẫu 440 phiếu doanh nghiệp và 60 phiếu cán bộ trên 10 tỉnh/thành có chỉ số EBI dẫn đầu). Chương này cũng giải trình cụ thể quy trình xử lý dữ liệu định lượng bằng Excel và SPSS 22.0, công thức tính toán điểm trung bình và độ lệch chuẩn làm căn cứ thực chứng cho các chương sau.

Chương 2: Cơ sở lý luận và bài học thực tiễn về QLNN về kinh tế, thương mại vận dụng đối với BHTT ở Việt Nam

Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng: bản chất bán hàng, đặc trưng của BHTT so với thương mại truyền thống (giao dịch qua nền tảng ảo, hoạt động liên tục 24/7, tiếp cận đa chiều, phụ thuộc vào hình ảnh/video mô tả và tiềm ẩn rủi ro thông tin). Tác giả luận giải khái niệm QLNN đối với BHTT, xác định chủ thể, đối tượng quản lý, đặc điểm và 7 mục tiêu chính (bảo vệ người tiêu dùng, bảo đảm an ninh dữ liệu, kiến tạo cạnh tranh bình đẳng, chống thất thu thuế, nâng cao nhận thức người tiêu dùng, phát triển hạ tầng công nghệ và hợp tác quốc tế).

Luận án xác lập khung 4 nội dung QLNN theo tiếp cận hỗn hợp: (1) Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển BHTT (chiến lược quốc gia, kế hoạch trung hạn 3-5 năm, kế hoạch hàng năm). (2) Xây dựng chính sách và ban hành văn bản pháp luật: gồm 5 nhóm chính sách chính (thương nhân, bảo vệ người tiêu dùng, thuế, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ và thanh toán) và các quy định pháp luật thừa nhận tính pháp lý của thông điệp dữ liệu, hợp đồng điện tử và chữ ký điện tử. (3) Tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch. (4) Kiểm tra, giám sát hoạt động BHTT.

Chương này xây dựng hệ thống 5 tiêu chí đánh giá chất lượng QLNN gồm: tính hiệu lực; tính hiệu quả; tính phù hợp; tính đồng bộ, hệ thống và thống nhất; tính minh bạch và công bằng. Tác giả phân tích các nhân tố ảnh hưởng thuộc nhóm bên trong và bên ngoài; đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn tại Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, từ đó rút ra các bài học tham khảo về xây dựng hành lang pháp lý linh hoạt, chuẩn hóa công cụ thanh toán số, tăng cường giám sát thuế điện tử và bảo vệ quyền riêng tư người dùng.

Chương 3: Thực trạng QLNN đối với BHTT ở Việt Nam

Chương 3 tái hiện bức tranh phát triển của BHTT tại Việt Nam giai đoạn 2016-2023 gắn với sự hoàn thiện hạ tầng Internet (từ năm 1997 đến 2023) và sự chuyển dịch mạnh mẽ sang thiết bị di động (chiếm trên 70% người dùng mua sắm trực tuyến năm 2022). Các số liệu thống kê ghi nhận bước nhảy vọt về doanh thu: từ 5 tỷ USD năm 2016 lên 11,8 tỷ USD năm 2020, 16,4 tỷ USD năm 2022 và đạt 20,5 tỷ USD năm 2023; thị phần tập trung chủ yếu vào các sàn TMĐT lớn như Shopee, Lazada, Tiki, Sendo cùng sự bùng nổ của mô hình Live Commerce trên TikTok và Facebook.

Tác giả phân tích thực trạng thực hiện 4 nội dung QLNN tại Việt Nam:

  • Công tác chiến lược, kế hoạch: Triển khai các Kế hoạch phát triển TMĐT quốc gia từ năm 2016 đến nay, Quyết định số 645/QĐ-TTg, Quyết định số 411/QĐ-TTg về chiến lược phát triển kinh tế số, xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, và Quyết định số 1163/QĐ-TTg về chiến lược phát triển thương mại trong nước.
  • Xây dựng chính sách và ban hành văn bản pháp luật: Phân tích quá trình hoàn thiện thể chế từ Nghị định 52/2013/NĐ-CP, Nghị định 72/2013/NĐ-CP, Luật An ninh mạng 2018, Nghị định 85/2021/NĐ-CP (bổ sung quy định quản lý sàn TMĐT nước ngoài và nghĩa vụ thuế), Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15, và Công điện số 56/CĐ-TTg ngày 06/06/2024 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường QLNN trong lĩnh vực TMĐT.
  • Tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát: Ghi nhận nỗ lực cung cấp dịch vụ công trực tuyến, cổng thông tin đăng ký website/sàn TMĐT của Bộ Công Thương; công tác phối hợp kiểm tra, xử lý vi phạm về hàng giả, gian lận thương mại và trốn thuế.

Dựa trên kết quả khảo sát sơ cấp (440 doanh nghiệp và 60 cán bộ quản lý), chương 3 đánh giá chi tiết chất lượng QLNN qua các bảng số liệu thống kê mô tả về điểm trung bình và độ lệch chuẩn theo 5 tiêu chí: hiệu lực, hiệu quả, phù hợp, tính đồng bộ/hệ thống/thống nhất, và tính minh bạch/công bằng. Luận án chỉ ra các thành công đạt được trong việc tạo lập môi trường kinh doanh số, đồng thời làm rõ những hạn chế: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật còn thiếu đồng bộ, chậm cập nhật trước mô hình kinh tế mới; nguy cơ lộ lọt dữ liệu và tội phạm mạng gia tăng; quản lý thu thuế gặp khó khăn trong việc kiểm soát dòng tiền và định danh người bán; tình trạng hàng giả, hàng kém chất lượng trên môi trường mạng diễn biến phức tạp. Nguyên nhân xuất phát từ sự biến động quá nhanh của công nghệ, cơ chế phối hợp liên ngành chưa chặt chẽ và nguồn lực cán bộ quản lý còn hạn chế.

Chương 4: Quan điểm, định hướng và một số giải pháp hoàn thiện QLNN đối với BHTT ở Việt Nam đến năm 2030

Chương 4 dự báo xu hướng phát triển BHTT toàn cầu và tại Việt Nam đến năm 2030, gắn với các công nghệ tiên tiến như AI, VR, AR, dữ liệu lớn và phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. Tác giả xác lập các quan điểm và định hướng quản lý bám sát các mục tiêu phát triển kinh tế số, xã hội số và chiến lược phát triển thương mại trong nước của Chính phủ.

Luận án xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện theo 4 nội dung QLNN: (1) Giải pháp hoàn thiện chiến lược, kế hoạch: Nâng cao chất lượng dự báo thị trường, cụ thể hóa các chỉ tiêu tăng trưởng BHTT gắn với quy hoạch kinh tế số từng vùng. (2) Giải pháp hoàn thiện chính sách: Hoàn thiện chính sách thương nhân, chính sách bảo vệ dữ liệu cá nhân người tiêu dùng, cơ chế quản lý và thu thuế tự động đối với các giao dịch xuyên biên giới, chính sách hỗ trợ hạ tầng viễn thông và logistics số. (3) Giải pháp tổ chức thực hiện: Kiện toàn bộ máy điều hành, đẩy mạnh tích hợp cơ sở dữ liệu dùng chung giữa Bộ Công Thương, cơ quan Thuế, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Công an. (4) Giải pháp kiểm tra, giám sát: Hiện đại hóa phương thức thanh tra, ứng dụng công nghệ giám sát điện tử để truy vết giao dịch, phát hiện hàng giả và gian lận thương mại trên không gian mạng.

Bên cạnh đó, luận án đề xuất 6 nhóm giải pháp cơ bản: (1) Hoàn thiện khung khổ pháp luật TMĐT nói chung và BHTT nói riêng. (2) Phát triển chuyển đổi số và thực hành mô hình Chính phủ số trong quản trị BHTT. (3) Đổi mới tư duy sang mô hình quản trị nhà nước thích ứng và đồng kiến tạo. (4) Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, viên chức trực tiếp làm công tác QLNN đối với BHTT. (5) Nâng cao chất lượng và sự hài lòng đối với hệ thống dịch vụ công trực tuyến phục vụ BHTT. (6) Phát triển đồng bộ các chính sách QLNN đối với bên thứ ba trong chuỗi cung ứng BHTT (doanh nghiệp bưu chính, chuyển phát logistics, các đơn vị trung gian thanh toán số).

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

Về lý luận:

  • Thứ nhất: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về BHTT; làm rõ các khái niệm về BHTT và lý luận cơ sở về QLNN đối với kinh tế và thương mại.
  • Thứ hai: Hệ thống hóa, bổ sung và phát triển cơ sở lý luận về QLNN đối với BHTT; làm rõ khái niệm, đặc điểm, chủ thể, đối tượng và các mục tiêu của QLNN đối với BHTT.
  • Thứ ba: Cụ thể hóa khung đánh giá nội dung QLNN đối với BHTT theo tiếp cận hỗn hợp gồm 4 nội dung (xây dựng chiến lược, kế hoạch; xây dựng chính sách và ban hành văn bản pháp luật; tổ chức triển khai; kiểm tra, giám sát); thiết lập hệ thống 5 tiêu chí đánh giá chất lượng QLNN (hiệu lực; hiệu quả; phù hợp; đồng bộ, hệ thống và thống nhất; minh bạch và công bằng) cùng hệ thống các yếu tố ảnh hưởng bên trong và bên ngoài.

Về thực tiễn:

  • Thứ nhất: Khái quát và làm rõ thực trạng phát triển hoạt động BHTT tại Việt Nam giai đoạn 2016-2023 trong bối cảnh phát triển kinh tế số, tổng hợp các mốc tăng trưởng doanh thu và cơ cấu thị trường.
  • Thứ hai: Thông qua xử lý dữ liệu thứ cấp của Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số cùng dữ liệu khảo sát thực nghiệm sơ cấp (440 doanh nghiệp BHTT và 60 cán bộ quản lý tại 10 tỉnh/thành phố), luận án phân tích thực trạng theo 4 nội dung quản lý và 5 tiêu chí chất lượng; cung cấp bằng chứng thực nghiệm về những hạn chế nảy sinh trong quản lý thuế, bảo mật dữ liệu và kiểm soát hàng giả, đặc biệt là giai đoạn sau đại dịch COVID-19.
  • Thứ ba: Trên cơ sở lý luận, thực tiễn và bài học kinh nghiệm quốc tế (Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore), luận án đề xuất hệ thống các giải pháp có cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện QLNN đối với BHTT ở Việt Nam đến năm 2030, gắn với mục tiêu chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế số.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động BHTT theo mô hình B2C trên ba kênh chính gồm mạng xã hội, website doanh nghiệp và sàn giao dịch TMĐT; chưa mở rộng đánh giá chuyên sâu đối với các mô hình giao dịch khác như B2B, C2C hay D2C.
  • Về phạm vi thể chế: Nghiên cứu giới hạn ở các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước cấp Trung ương ban hành, chưa phân tích hệ thống văn bản và chính sách đặc thù của chính quyền địa phương cấp tỉnh, thành phố.
  • Về phạm vi không gian và mẫu khảo sát: Hoạt động điều tra sơ cấp chỉ tập trung tại 10 tỉnh, thành phố có chỉ số TMĐT dẫn đầu cả nước (TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Hải Phòng, Nam Định, Cần Thơ, Đồng Tháp, Phú Thọ, Đồng Nai, Bắc Ninh); chưa bao quát được các địa phương thuộc vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa có điều kiện hạ tầng thấp hơn.
  • Về thời gian thu thập dữ liệu: Dữ liệu điều tra sơ cấp được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 6/2022 đến tháng 8/2022 bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, phản ánh ý kiến đánh giá tại thời điểm kinh tế vừa bước ra khỏi đại dịch COVID-19.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các mô hình B2B, C2C, D2C và các giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới phức tạp.
  • Mở rộng địa bàn điều tra khảo sát sang các địa phương có chỉ số phát triển TMĐT thấp nhằm đánh giá toàn diện khoảng cách số trong thực thi chính sách quản lý nhà nước.
  • Tiếp tục theo dõi, kiểm chứng và đo lường tác động thực tế của Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 và Công điện số 56/CĐ-TTg (2024) khi đi vào triển khai thực tiễn trong giai đoạn 2024-2030.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Thương mại điện tử, Quản trị kinh doanh: Luận án cung cấp khung phân tích 4 nội dung kết hợp 5 tiêu chí đánh giá chất lượng QLNN; mô hình thiết kế bảng hỏi khảo sát định lượng theo thang đo Likert và quy trình xử lý dữ liệu qua phần mềm SPSS 22.0 và Excel.
  • Đối với giảng viên và các viện nghiên cứu: Tài liệu cung cấp nguồn tư liệu học thuật phong phú về tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, cơ sở lý luận về quản lý kinh tế - thương mại và bài học kinh nghiệm quốc tế từ Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Cục Quản lý thị trường): Luận án cung cấp các số liệu thực chứng phản ánh đánh giá của doanh nghiệp và cán bộ quản lý về thực trạng chính sách thuế, bảo vệ người tiêu dùng, dịch vụ công trực tuyến; làm cơ sở dữ liệu tham khảo để hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật và triển khai Kế hoạch phát triển TMĐT quốc gia giai đoạn đến năm 2030.

Câu hỏi thường gặp

Câu 1: Bốn nội dung quản lý nhà nước đối với bán hàng trực tuyến được luận án xác định theo tiếp cận hỗn hợp gồm những nội dung nào?
Trả lời: Bốn nội dung gồm: (1) Xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển BHTT; (2) Xây dựng chính sách và ban hành văn bản pháp luật QLNN đối với BHTT (gồm chính sách thương nhân, chính sách bảo vệ người tiêu dùng, chính sách thuế, chính sách nhân lực, chính sách hạ tầng công nghệ và thanh toán, công nhận thông điệp dữ liệu và chữ ký điện tử); (3) Tổ chức triển khai chiến lược, chính sách, kế hoạch phát triển BHTT; (4) Kiểm tra, giám sát BHTT.

Câu 2: Luận án sử dụng những tiêu chí nào để đo lường chất lượng QLNN đối với BHTT?
Trả lời: Chất lượng QLNN được đánh giá qua 5 tiêu chí: (1) Tính hiệu lực; (2) Tính hiệu quả; (3) Tính phù hợp; (4) Tính đồng bộ, hệ thống và thống nhất; (5) Tính minh bạch và công bằng.

Câu 3: Quy mô mẫu và địa bàn thu thập dữ liệu sơ cấp của luận án được thực hiện như thế nào?
Trả lời: Khảo sát được thực hiện từ tháng 6/2022 đến tháng 8/2022 tại 10 tỉnh, thành phố có chỉ số TMĐT cao (TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Hải Phòng, Nam Định, Cần Thơ, Đồng Tháp, Phú Thọ, Đồng Nai, Bắc Ninh). Tổng số phiếu thu về hợp lệ gồm 440 phiếu từ 100 doanh nghiệp BHTT (trên 468 phiếu phát ra) và 60 phiếu từ cán bộ QLNN tại các cơ quan quản lý (trên 80 phiếu phát ra).

Câu 4: Luận án nghiên cứu bài học kinh nghiệm quốc tế về QLNN đối với BHTT từ những quốc gia nào?
Trả lời: Luận án nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn từ 4 quốc gia: Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc và Singapore.

Câu 5: Doanh thu bán hàng trực tuyến tại Việt Nam giai đoạn 2016 - 2023 biến động ra sao theo số liệu luận án trích dẫn?
Trả lời: Doanh thu BHTT tại Việt Nam tăng trưởng liên tục: đạt mức 5 tỷ USD vào năm 2016, tăng lên 11,8 tỷ USD năm 2020 (sức mua tăng 46% do dịch COVID-19), đạt 16,4 tỷ USD năm 2022 (tăng trưởng 20%) và đạt 20,5 tỷ USD năm 2023, đưa quy mô thị trường Việt Nam đứng thứ hai khu vực Đông Nam Á, sau Indonesia.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Quản lý nhà nước đối với bán hàng trực tuyến ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Minh Phương là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế, giải quyết đồng bộ các vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác điều tiết thị trường BHTT theo mô hình B2C. Luận án đã hệ thống hóa khung phân tích 4 nội dung kết hợp 5 tiêu chí đánh giá chất lượng QLNN, đồng thời cung cấp các bằng chứng thực nghiệm giá trị từ khảo sát 440 doanh nghiệp và 60 cán bộ quản lý tại 10 địa phương trọng điểm. Các kết quả đánh giá thực trạng giai đoạn 2016-2023 cùng hệ thống giải pháp đề xuất đến năm 2030 đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng số và nâng cao hiệu lực quản lý thương mại điện tử tại Việt Nam.