TRUONG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NOI ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÁP TRƯỜNG ĐÈ TÀI THUC TRẠNG PHAP LUẬT VIET NAM VE BẢO VỆ NGUOI TIEU DUNG TRONG GIAO DICH THUONG MAI DIEN TU VOI THUONG NHAN Mã số: LH - 2020 - 20 /DHL - HN CHU NHIEM DE TAI: THS. NGUYEN NGOC QUYEN THU KÝ DE TÀI: ThS. Tống Đức Duy HÀ NỘI - 2021 TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÁP TRƯỜNG ĐÈ TÀI THUC TRẠNG PHÁP LUAT VIỆT NAM VE BẢO VỆ NGƯỜI TIEU DUNG TRONG GIAO DICH THƯƠNG MẠI DIEN TU VOI THUONG NHAN Mã số: LH - 2020 - 20 /DHL - HN CHỦ NHIEM DE TÀI: THS. NGUYEN NGỌC QUYEN THU KÝ DE TÀI: ThS.
Tống Dire Duy HA NỘI - 2021 NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THUC HIỆN DE TÀI Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Ngọc Quyên Trường Đại học Luật Hà Nội Các tác giả chuyên đề khoa học: 1. Nguyễn Thị Vân Anh Chuyên dé 1 (Trường Dai học Luật Hà Nội) 2. Nguyễn Ngọc Quyên Chuyên đề (Trường Đại học Luật Hà Nội) 2,3 3.
Tổng Đức Duy Chuyén dé 4 (Trường Dai học Luật Hà Nội) 4. Hoàng Minh Chiến Chuyên đê 5 (Trường Đại học Luật Hà Nội) 5. Hồ Tùng Bách Chuyên dé 6 (Cục Cạnh tranh va Bao vệ người tiêu dùng) MỤC LỤC PHAN |.1111 110121111 E11xgeerereg 5 BAO CÁO TONG HỢP KET QUA NGHIÊN CỨU ĐÈ TÀII. -- 2: 2 £EE£EE£EE£EEE+EE+EESEEEEEEEEEEetrkerkerkee 5 1.
PHAN MO ĐẦU. TÍNH CAP THIET CUA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI. TINH HÌNH NGHIÊN CỨU DE TÀI. - G2 E226 221% 12311 511 5311 311131 23 11931 11v TH kg KH TH g ệp 9 1.
MỤC DICH, MỤC TIÊU CUA DE TÀI. DOI TƯỢNG, PHAM VI NGHIÊN CỨU CUA ĐÈ TÀI. CÁCH TIẾP CAN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU DE TÀI. LUC LUGNG THAM GIA DE (1-3.
PHAN NỘI DƯNG. MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DUNG VÀ PHÁP LUAT BAO VỆ NGƯỜI TIEU DUNG TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VỚI THƯƠNG NHÂN. THỰC TRANG PHÁP LUAT VIET NAM VE BẢO VỆ NGƯỜI TIEU DUNG TRONG GIAO DICH THUONG MAI 2))2)N9A1/9)8951919))160)):792011727. MOT SO GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUA THỰC THI PHÁP LUẬT VE BAO VỆ NGƯỜI TIEU DUNG TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ.
71 CÁC CHUYEN DE NGHIÊN CỨU.2-- 22 ©++22E++2SE++2SEEE+2EEE+2EEX2222312271127111272112221127112712 272. 71 MOT SO VAN DE LY LUAN VE BAO VE NGUOI TIEU DUNG TRONG GIAO DICH THUONG MAI ĐIỆN TỬ VỚI THƯƠNG NHÂN .ceccccccsssscsscsscscssesscsucsscscsesacsucsucausarsussucsucsucassacsussucaesassassucaucatsarsucsucareaneavene 71 CHUYEN DE 2 ooccecccccssssscsvssesesucsesuesesucacsucarsucacsucecsucacssecsesecssacausucassucarsusassucassucassucasssassvsacavensansasaesncavsneacanens 94 PHAP LUAT QUOC TE VA PHÁP LUAT MOT SO NƯỚC TREN THE GIỚI VE BAO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIEU DUNG TRONG THUONG MAI ĐIỆN TU .cesccscccsssesssessesssesssessecssecsvesssssecssessecssesssesssasecaee 94 CHUYEN DBE 3. 114 THỰC TRẠNG PHÁP LUAT VỀ QUYỀN CUA NGƯỜI TIEU DUNG TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VỚI THƯƠNG NHÂN. xe 114 CHUYEN DE 4.
136 THỰC TRANG PHÁP LUẬT VE TRÁCH NHIỆM CUA TO CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VỚI NGƯỜI TIỂU DỪNG.-2- 2 52+E+E+EE£EE£EEzEzEerxersez 136 CHUYEN DE 5. 160 THUC TRANG PHAP LUAT VE PHUONG THUC GIAI QUYET TRANH CHAP VA CHE TAI DOI VOI HANH VI VI PHAM PHAP LUAT TRONG GIAO DICH THUONG MẠI ĐIỆN TU GIỮA NGƯỜI TIỂU DUNG VỚI THUONG NHÂYN. 182 TRÁCH NHIEM CUA BỘ CÔNG THUONG VE BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIỂU DUNG TRONG ©)V.Ô 207 PHAN I BAO CAO TONG HOP KET QUÁ NGHIÊN CỨU DE TÀI “THUC TRANG PHAP LUAT VIET NAM VE BAO VE NGUOI TIEU DUNG TRONG GIAO DICH THUONG MAI DIEN TU VOI THUONG NHAN” 1. PHAN MO DAU 1.
Tinh cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Đề tài “Thuc trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ người tiêu dùng trong giao dịch thương mại điện tử với thương nhân ”, một nội dung trong pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (NTD) được nhóm tác giả lựa chọn vì những lý do cơ bản sau đây: Tứ nhất, lĩnh vực bảo vệ quyền loi NTD, đặc biệt là van dé bảo vệ NTD trong thương mại điện tử can được nghiên cứu chuyên sâu cả về lý luận cũng như thực trạng quy định pháp luật. Bảo vệ NTD đang là van đề được cả xã hội quan tâm vì tầm ảnh hưởng và tác động của nó đến đời sống người dân. NTD là bên yếu thé trong mối quan hệ với thương nhân, họ không có đủ thông tin, kiến thức và điều kiện như thương nhân nên họ cần được bảo vệ bởi một loại pháp luật đặc thù, đó chính là lý do ra đời pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD. Do đó, pháp luật bảo vệ NTD không chỉ dé cập đến những quyền cơ bản của NTD mà còn đề cập tới trách nhiệm của các tô chức, cá nhân kinh doanh khi cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho NTD.
Ngoài ra, luật còn quy định cả về thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực thi pháp luật bảo vệ NTD, chế tài xử lý vi phạm và các phương thức giải quyết tranh chấp giữa NTD với thương nhân. Đặc biệt trong thời kỳ bùng nỗ công nghệ, việc trao đôi mua ban hàng hóa, dịch vụ đã được nâng lên một hình thức mới cao hơn đó chính là thương mại điện tử. Giờ đây NTD chỉ cần ở nhà, truy cập mạng internet là đã có thé chọn những món đồ ưng ý vào bắt ké thời gian nào và người bán ở khắp nơi trên thế giới. Thương mại điện tử khiến cho việc mua hàng hóa của NTD trở nên dé dang và thuận tiện hơn, nhưng điểm mạnh cũng chính là điểm yếu của thương mại điện tử, chính việc NTD mua hàng hóa chủ yếu dựa vào thông tin mà thương nhân cung cấp chứ không được trực tiếp kiểm tra, trải nghiệm sản phâm đã khiên cho việc mua bán mang đây những rủi ro về phía NTD.
Tại Việt Nam, thương mại điện tử đã bắt đầu được các tô chức, cá nhân kinh doanh đầu tư phát triển khi nền tảng công nghệ thông tin và trình độ sử dụng internet của người dân tăng cao trong những năm gần đây. Theo thống kê của Bộ Công Thương trong Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam năm 2017 thì 92% số người được khảo sát cho biết họ sử dụng internet hàng ngày và 30% thời gian sử dụng internet được dùng cho mua bán cá nhân. Con số này cho thấy số lượng người sử dụng internet và có tham gia vào việc mua bán trên mạng là khá cao và có xu hướng tăng lên trong những năm trở lại đây. Bên cạnh đó, cũng theo Báo cáo này thì những lo ngại phố biến của NTD khi tham gia thương mại điện tử chính là việc khó kiểm định chất lượng sản phâm, không đủ thông tin dé ra quyết định, cách thức đặt hàng rắc rối, kết nối internet chậm v.
Những lo ngại này cũng chính là những yếu thế mà NTD phải đối mặt khi tham gia thương mại điện tử không chỉ tại Việt Nam mà còn trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên, NTD Việt Nam vẫn đặt niềm tin vào việc mua bán hàng hóa, dich vụ thông qua thương mại điện tử khi có tới 88% SỐ người được hỏi cho biết sẽ vẫn tiếp tục thực hiện những giao dịch điện tử, chỉ có 12% số người được hỏi quay lại với cách thức giao dịch truyền thống. Đây là con số khả quan đối với tương lai của thương mại điện tử tại Việt Nam và đây cũng chính là thách thức đặt ra cho các cơ quan quản lý nhà nước và thương nhân, làm thé nào dé có thé bảo vệ quyền lợi NTD một cách triệt dé khi họ tham gia thương mại điện tử, có thế mới khiến cho đông đảo NTD tin tưởng vào phương thức thương mại mới mẻ này. Tứ hai, xuất phát từ yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD trong thương mại điện tử.
Việc bảo vệ NTD trong thương mại điện tử có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp, công cụ khác nhau nhưng bảo vệ NTD bằng pháp luật là biện pháp, công cụ hữu hiệu nhất. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam lại chưa có quy định cụ thể về bảo vệ NTD trong thương mại điện tử với tô chức, cá nhân kinh doanh. Ở nước ta năm 2005 đã ban hành Luật giao dịch điện tử. Đây là khung pháp lý cơ bản đầu tiên cho toàn bộ các giao dịch điện tử trong xã hội.
Tiếp đó các văn bản hướng dẫn thi hành luật được ban hành như Nghị định sé 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ về thương mai điện tử, Nghị định số 26/2007/NĐ-CP quy định về Chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số ban hành ngày 15/2/2007 và Thông tư số 12/2013/TT-BCT quy định thủ tục thông báo, đăng ký và công bồ thông tin liên quan đến website thương mại điện tử đã thiết lập cơ chế đảm bảo an toàn, tin cậy của các giao dịch điện tử, thúc đây thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật mới chỉ quy định chung chung chứ không đi sâu vào mục đích bảo vệ NTD, trong khi NTD là bên “yếu thế” trong quan hệ với tô chức, cá nhân kinh doanh, cho nên cần phải có những quy định riêng biệt điều chỉnh nhằm đảm bảo cho công tác bảo vệ quyền lợi của NTD được thực thi trên thực tế. Bên cạnh đó, các trường hợp xâm phạm quyền của NTD ngày càng da dạng và tinh vi hơn, đòi hỏi phải được điều chỉnh cu thé, triệt dé hơn. Do đó, ngày 17/11/2010, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Bảo vệ quyền lợi NTD, trong đó quy định cụ thé hơn về quyền và nghĩa vu của NTD; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh; hình thức xử lý vi phạm pháp luật và phương thức giải quyết tranh chấp giữa NTD và t6 chức, cá nhân kinh doanh.
Luật tuy không có riêng một phần về bảo vệ NTD trong thương mại điện tử nhưng đã có những quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh khi sử dụng phương tiện điện tử trong giao kết hợp đồng với NTD tại Điều 14 về hợp đồng giao kết với NTD. Theo đó, nếu giao kết bằng phương tiện điện tử thì tổ chức, ca nhân kinh doanh phải tạo điều kiện cho NTD xem xét toàn bộ hợp đồng trước khi giao kết hay Điều 20 quy định về trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao địch cho NTD cũng có quy định nếu giao kết bằng phương tiện điện tử thì tô chức, cá nhân kinh doanh phải tạo điều kiện cho NTD truy nhập, tải, lưu giữ và in hóa đơn, chứng từ, tài liệu. Đặc biệt, tại Nghị định 99/2011/NĐ-CP quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi NTD đã có quy định cụ thê về hợp đồng giao kết từ xa là hợp đồng được ký kết giữa NTD và tô chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thông qua phương tiện điện tử hoặc điện thoại.