CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC BẢO ĐẢM AN TOÀN THỰC PHẨM TƯƠI SỐNG 1. Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực đảm bảo an toàn thực phẩm tươi sống 1. Khái quát về an toàn thực phẩm tươi sống 1. Quan niệm về thực phẩm tươi sống Từ khi con người bắt đầu xuất hiện trên trái đất đã cần đến thực phẩm để duy trì sự sống.
Ở mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi quốc gia hay vùng lãnh thổ khác nhau lại có những loại thực phẩm đặc trưng của mình. Tuy nhiên, thực phẩm hay còn gọi theo cách thông thường là thức ăn là bất kỳ thứ gì mà con người có thể ăn uống được. Thực phẩm bao gồm 3 nhóm chính là chất đạm, chất béo, và tinh bột. Trước đây, nguồn thực phẩm chủ yếu là do con người săn bắt, hái lượm được.
Khi con người biết trồng trọt, chăn nuôi thì nhiều loại thực phẩm khác nhau đã ra đời để thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ thực phẩm ngày càng lớn4. Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển thì những thực phẩm tiện lợi hơn như: thực phẩm ăn liền, thực phẩm đóng hộp, thực phẩm chức năng được sử dụng rộng rãi bởi chúng rất tiện ích, nhanh gọn và dễ sử dụng. Trong khoa học hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về “định nghĩa thực phẩm”. Tác giả Trần Quốc Khánh cho rằng: “Thực phẩm là một loại sản phẩm phổ biến nhất liên quan đến hoạt động sống của con người, hầu hết các loại sản phẩm mà con người có thể ăn hoặc uống được đều có thể gọi là thực phẩm, trừ các loại dùng để chữa bệnh”5.
Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Nữ Linh Tâm lại nhìn nhận:“Thực phẩm không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng cho con người, phát triển duy trì sự sống và lao động, thực phẩm cũng chính là 4 Phí Trung Kiên (2018), “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ”, Luận văn thạc sĩ luật học, Viện Đại Học Mở Hà Nội, tr.23 5 Trần Quốc Khánh (2019), An toàn thực phẩm theo pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ luật học, HVKHXH, tr.33 10 nguồn gây ngộ độc cho con người nếu như chúng ta không tuân thủ những biện pháp vệ sinh thực phẩm hữu hiệu”6. Dưới góc độ pháp lý, thì khoản 20, Điều 2, Luật ATTP năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2018) định nghĩa: “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm”. Như vậy, Luật ATTP xác định phạm vi thực phẩm tương đối rộng theo nghĩa là: “sản phẩm mà con người ăn, uống”.
Tuy nhiên, sản phẩm sẽ chỉ được coi là thực phẩm khi đáp ứng được các điều kiện an toàn cho con người và phù hợp với văn hóa của cộng đồng. Đồng thời, định nghĩa trên cũng loại trừ mỹ phẩm, thuốc lá và dược phẩm. Thực phẩm có thể được nhận dạng qua nhiều dạng như: thực phẩm đã qua chế biến (thực phẩm ăn liền, thực phẩm đóng hộp, thực phẩm sơ chế) hoặc còn tươi sống; có thể là nước uống, sữa, rượu, bia; cũng có thể là dược phẩm (thực phẩm chức năng) và thực phẩm có xuất xứ từ động vật hoặc thực vật. Như vậy, thực phẩm không chỉ là nguồn cung cấp năng lượng và chất dinh dưỡng giúp con người phát triển về thể chất và trí tuệ, mà nó còn giúp chúng ta duy trì sự sống và sức lao động.
Ngoài ra, thực phẩm còn có thể gây ra ngộ độc cho con người nếu như thực phẩm không được bảo đảm an toàn hoặc chế biến đúng cách. Trên cơ sở khái niệm về thực phẩm tại Khoản 20 thì nhà làm luật tiếp tục đưa ra định nghĩa về “Thực phẩm tươi sống” tại khoản 21, Điều 2, Luật ATTP năm 2010 sửa đổi, bổ sung 2018 như sau: “Thực phẩm tươi sống là thực phẩm chưa qua chế biến bao gồm thịt, trứng, cá, thuỷ hải sản, rau, củ, quả tươi và các thực phẩm khác chưa qua chế biến”. Khái niệm về an toàn thực phẩm tươi sống “ATTP” là một khái niệm khoa học có nội dung rộng hơn khái niệm vệ sinh thực phẩm hay chất lượng thực phẩm. Bởi , để biết thực phẩm có an toàn hay không, cần dựa vào một CS hiểu biết có tính khoa học, cho phép trả lời đâu là an toàn, đâu là nguy hại, bởi vì các chất độc có thể tích tụ trong cơ thể thời gian dài, ảnh hưởng đến sức khỏe một cách thầm lặng trước khi phát bệnh.
Do đó, có ý kiến cho đã nhận định: ATTP với ý 6 Nguyễn Nữ Linh Tâm (2018), “Pháp luật về an toàn thực phẩm trong hoạt động kinh doanh, qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị”, Luận văn thạc sĩ luật học Trường ĐH Luật, ĐH Huế, tr.31 11 nghĩa là những hành động của con người nhằm ngăn chặn các mối nguy, hạn chế và xử lý hậu quả do thực phẩm không an toàn gây ra đối với con người, động thực vật7. Trên thế giới, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về “ATTP”. Cụ thể như sau: * Theo định nghĩa của Tổ chức Lương thực - Nông nghiệp thế giới (FAO), ATTP được định nghĩa “ATTP là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho NTD khi nó được chế biến hoặc/và dùng theo mục đích sử dụng của nó8”. Theo định nghĩa này, ATTP là hoạt động bảo đảm cho thực phẩm không tác động xấu đến sức khỏe của NTD cả khi chế biến và sử dụng.
Định nghĩa tuy đã thể hiện tính khái quát hóa nhưng chưa chỉ rõ được tác động của thực phẩm không an toàn đối với NTD, đó là gây hại gì cho NTD : sức khỏe, hay tính mạng, tinh thần,…? *Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì “ATTP là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng”9 .Đây là khái niệm khá đầy đủ, tuy nhiên tính khái quát hóa chưa cao. * Theo trang Từ điển bách khoa toàn thực mở vi.org, khái niệm ATTP được đồng nhất với khái niệm ATTP. Theo đó “ATTP là một môn khoa học dùng để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra…. Theo cách hiểu này, ATTP được xem như là một môn khoa học để giải quyết những vấn đề liên quan đến thực phẩm nhằm bảo đảm thực phẩm không gây ảnh hưởng xấu đến NTD.
Dưới góc độ pháp lý, tại Khoản 1, Điều 2, Luật ATTP năm 2010 thì nhà làm luật đã đưa ra định nghĩa về “ATTP” như sau: “ATTP là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người11”. Đây là khái niệm khá khái quát khi nó chứa đựng đầy đủ những nội dung cốt lõi của vấn đề về ATTP. Theo khái niệm này, 7 Trần Thị Hồng Yến (2018), “Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Viện ĐH Mở Hà Nội 8 FAO/WHO (2000), Assuring food safety and quality: Guidelines for strengthening national food control systems (Bảo đảm an toàn và chất lượng thực phẩm: Hướng dẫn tăng cường hệ thống kiểm soát lương thực quốc gia), Geneva; 9 WHO (2002), WHO global strategy for food safety - Safety food for better health, 2002 10 Nguyễn Như Hiếu (2020), “Pháp luật về an toàn thực phẩm từ thực tiễn thực hiện tại Thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường ĐH Mở Hà Nội, 11 Khoản 1, Điều 2, Luật ATTP năm 2010 12 ATTP được hiểu là việc thực hiện những cách thức, biện pháp để bảo đảm thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng của con người. Dưới góc nhìn so sánh thì cách giải thích của Luật ATTP năm 2010 có nét khá tương đồng với pháp luật một số quốc gia trên thế giới.
Chẳng hạn theo pháp luật của Nhật Bản, khái niệm ATTP được hiểu là vệ sinh thực phẩm và đươc giải thích như sau: “ATTP được hiểu là điều kiện vệ sinh liên quan đến việc tiêu dùng thực phẩm của con người bao gồm thực phẩm, phụ gia thực phẩm, dụng cụ chế biến và bao bì”. Định nghĩa này có nhắc tới việc tiêu dùng thực phẩm của con người nhưng vẫn chưa nêu rõ việc bảo đảm an toàn sức khỏe cho con người khi tiêu dùng thực phẩm12. Từ các phân tích trên, với cách tiếp cận dựa trên khái niệm về “ATTP” theo tác giả có thể hiểu: “ATTP tươi sống được hiểu là việc thực hiện những cách thức, biện pháp để bảo đảm thực phẩm chưa qua chế biến (thịt, trứng, cá, thuỷ hải sản, rau, củ, quả tươi.vvv) không gây hại đến sức khỏe, tính mạng của con người 1. Khái niệm về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực đảm bảo an toàn thực phẩm tươi sống NTD (consumer) là khái niệm khá rộng và được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau và không đồng nhất.
* Dưới góc độ kinh tế: NTD là phạm trù chỉ những chủ thể tiêu thụ của cải, vật chất được tạo ra bởi nền kinh tế. Như vậy, NTD là người mua, sử dụng HH&DV cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua quá trình sử dụng chúng13. Có thể nói, trong mọi nền sản xuất của tất cả các quốc gia, NTD là đối tượng được hướng tới của mọi doanh nghiệp. NTD quyết định nhóm ngành, hàng được sản xuất, định hướng đầu tư và phát triển cho các doanh nghiệp trong thị trường.
* Dưới góc độ pháp lý: Thuật ngữ NTD chỉ xuất hiện với tư cách là chủ thể pháp luật khi lĩnh vực pháp luật về BVQLNTD ra đời. Vì vậy, dưới góc độ pháp lý, NTD là đối tượng được bảo vệ theo luật bảo vệ NTD. NTD là các khái niệm cơ bản và rất quan trọng. Là chủ thể của quan hệ pháp luật BVQLNTD.
Là đối tượng trọng tâm được bảo vệ của pháp luật BVQLNTD.