CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TỰ QUẢN CỘNG ĐỒNG Ở CƠ SỞ 1. Tự quản và tự quản cộng đồng 1. Tự quản Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm tự quản. Theo Từ điển Tiếng Việt, “Tự quản là tự mình trông coi, quản lý với nhau công việc của mình không cần có ai điều khiển”[2, tr.
Trong lĩnh vực quản lý xã hội, tự quản được hiểu là một hình thức dân chủ trực tiếp: “Đó là việc dân chúng tự tổ chức thực hiện công việc nào đó, tự quản lấy những mặt nào đó của đời sống cộng đồng trong khuôn khổ pháp luật” [27]. Nói rộng ra, tự quản là chế độ tổ chức và hoạt động của một tổ chức, một đơn vị kinh doanh, do tập thể những người lao động của nó quản lý, tự đặt kế hoạch hành động, tự quyết định lấy công việc của mình, tự giám sát công việc, tự đánh giá kết quả công việc, hành vi xử sự của mình mà không cần có sự điều hành, chỉ huy của người quản lý, hoặc một tổ chức quản lý cấp trên. Tự quản là phương thức quản lý mở rộng dân chủ trên những mức độ khác nhau. Tự quản là một sản phẩm của nhiều sự tự nguyện, trước hết là sự tự nguyện của nhà nước dành quyền tự điều chỉnh cho mỗi cá nhân của cộng đồng, cũng tức là dành quyền cho cộng đồng tự tổ chức điều chỉnh các hoạt động cần thiết của nó.
Thứ hai, là sự tự nguyện của người dân trong việc tham gia hay ủy nhiệm cho người khác tham gia vào chủ thể quản lý có tính tập thể. Thứ ba, đó là sự tự nguyện xác định những công việc gì sẽ thuộc về khách thể của sự quản lý vởi tập thể. Thứ tư, đó là sự tự nguyện thỏa thuận những biện 14 pháp quản lý, chẳng hạn xác định những quy định hay những điều khoản thưởng, phạt; tự nguyện đóng góp các nguồn tài chính cần thiết cho tập thể để thực hiện những công việc chung. Như vậy, tự quản một mặt mang tính tự nguyện, bình đẳng nội bộ cao, mặt khác không thể tạo thành một cộng đồng khép kín tới mức nhà nước không thể can thiệp được như trong chế độ tự trị [28, tr.
Từ những định nghĩa khác nhau về khái niệm “tự quản” nêu trên có thể hiểu: Tự quản là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của các cá nhân, tự quản lý công việc chung nhằm đạt mục tiêu đề ra. Tự quản cộng đồng ở cơ sở Để hiểu rõ hơn về khái niệm tự quản cộng đồng ở cơ sở, trước tiên cần phải hiểu khái niệm cấp cơ sở trong hệ thống các cấp quản lý nhà nước hiện nay. Trong bất kỳ một cơ quan, tổ chức, đơn vị và rộng hơn là quốc gia thì cấu trúc của hệ thống quản lý đều được tổ chức theo mô hình từ nhỏ đến lớn hoặc ngược lại. Trong hệ thống quản lý nhà nước ở Việt Nam hiện nay bao gồm có 4 cấp đó là: Trung ương - cấp tỉnh - cấp huyện - cấp xã, 4 cấp này được tổ chức theo một hệ thống dọc, từ trên xuống dưới sẽ là Trung ương - địa phương - cơ sở.
Nói đến chính quyền nhà nước ở cơ sở là nói đến cấp xã. Trong luận văn này chúng ta sẽ tập trung vào cấp cơ sở là cấp xã. Cơ sở nhìn chiều từ trên xuống, xét về quy mô và mối quan hệ quyền lực là cấp thấp nhất, cấp cuối cùng. Cấp cơ sở là những đầu mối công việc, mối quan hệ ngang dọc, nhiều chiều, nơi bộc lộ trực tiếp của một chính quyền, một chế độ.
15 Cơ sở nếu nhìn từ dưới lên thì nó là nền tảng của nhà nước và xã hội. Là nơi chứng thực đường lối, chính sách, luật pháp của Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống và được triển khai cụ thể ra sao, bởi chính sách khoa học, đúng đắn đến đâu thì cũng chỉ là chủ quan từ một phía, chưa thể khẳng định hiệu quả nếu không được đưa vào thực tiễn cơ sở phong phú, phải được vật chất hóa ở đời sống người dân, phải được thể chế hóa chặt chẽ qua hoạt động của cơ sở. Cấp xã, cấp cơ sở là cấp hành động, cấp hoạt động, tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước. Cơ sở quan trọng là vậy và nó càng có ý nghĩa hơn khi là lực lượng quan trọng, đại diện cho quyền lực nhà nước nhằm phát huy được hiệu quả hoạt động tự quản của cộng đồng dân cư.
Về khái niệm cộng đồng, giống như khái niệm tự quản, khái niệm này cũng được các nhà nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt, cộng đồng là "Toàn thể những người cùng sống, có những điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội” [2]. Có định nghĩa lại cho rằng: Cộng đồng là “Một tập hợp người sống thành một xã hội trong cùng thời gian, trên cùng một lãnh thổ đã được xác định, có chung đặc điểm tâm lý, tình cảm, có quan hệ gắn bó với nhau thành một khối và tạo ra một mạng lưới thông tin với nhau” [21, tr. “Cộng đồng được xác định là những người sống và làm việc trong một khu vực địa lý nhất định.
Điều đó có nghĩa là cộng đồng bao gồm tất cả các thành viên của gia đình, không chỉ bao gồm chủ hộ. Cộng đồng bao gồm các tổ chức xã hội được thiết lập bởi chính cộng đồng để đại diện cho các quan điểm của họ" [20, tr. Vậy, cộng đồng chính là tập hợp những người cùng sống và hoạt động trong một môi trường tương đồng nhất định như cùng khu vực địa lý, có 16 chung các đặc điểm tâm lý, tình cảm gắn bó, hệ giá trị chuẩn mực, điều kiện sống. Cộng đồng bao gồm các tổ chức xã hội được thiết lập bởi chính cộng đồng để đại diện cho quan điểm và hoạt động của họ.
Tự quản cộng đồng chính là việc cộng đồng tự quản lý hoạt động của cộng đồng. Sự tự quản lý thực hiện trong khuôn khổ có tính pháp lý, do quy chế dân chủ ở cơ sở quy định, cụ thể như sau: “Điều 17: Thôn, làng, ấp, bản có thể thành lập các ban hòa giải, ban an ninh, tổ bảo vệ sản xuất, ban kiến thiết. Các tổ chức này do dân bầu, trưởng thôn, làng, ấp, bản phối hợp với Ban công tác mặt trận quản lý và chỉ đạo” [41]. Tự quản cộng đồng bao gồm: Nguyên tắc dân chủ cộng đồng làng xã, nghĩa là các thành viên đến độ tuổi nhất định đều phải có nghĩa vụ nhất định, trong những công việc của cộng đồng, trong nhóm xã hội đặc thù này tồn tại những vị trí xã hội mang tính chất đứng đầu để điều khiển mọi hoạt động chung có lợi cho cộng đồng, thông thường là những người được cộng đồng chọn và bầu cử ra theo nguyên tắc “chọn mặt gửi vàng”, mọi thành viên của nhóm xã hội này đều có những mục tiêu chung để gắn bó với nhau; Cộng đồng có những luật lệ riêng của mình để đánh giá hoạt động của mọi thành viên [13, tr 55].
Hoạt động tự quản cộng đồng là hoạt động có sự tham gia tự nguyện của các thành viên trong cộng đồng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước nhằm hướng đến các mục tiêu chính trị mà Đảng và Nhà nước đặt ra. Cách thức và thời gian hoạt động của cộng đồng có thể khác nhau, tuỳ vào loại hình và mức độ của khách thể mà cộng đồng dân cư tác động cũng như tuỳ vào năng lực thấu hiểu của cộng đồng với các vấn đề liên quan. Điều đáng chú ý, cộng đồng dân cư càng hoạt động tích cực, dưới sự định hướng tốt của Đảng và Nhà nước thì hiệu quả hoạt động càng cao. 17 Như vậy, hiểu một cách đơn giản khái niệm tự quản cộng đồng ở cơ sở là hoạt động có sự tham gia của các cá nhân trong cộng đồng theo từng nhóm, trên cùng một địa bàn lãnh thổ cấp cơ sở, có quyền ra quyết định trên cơ sở bàn bạc, thảo luận giữa các thành viên để cùng nhau thống nhất nhằm thực hiện mục tiêu chung.
Vai trò của hoạt động tự quản cộng đồng ở cơ sở Từ thực tiễn triển khai các mô hình tự quản cộng đồng ở cơ sở trong những năm qua đã cho thấy vai trò của hoạt động này thể hiện trên các mặt của đời sống xã hội, cụ thể như sau: Thứ nhất, trợ giúp, bổ sung, hỗ trợ cho công tác QLNN: Tự quản cộng đồng ở cơ sở là một dạng thức quản lý xã hội có vị trí, vai trò trợ giúp, chia sẻ cho công tác quản lý xã hội của nhà nước trong bất kỳ chế độ nào. Sự tồn tại và phát triển của hoạt động tự quản cộng đồng phản ánh bản chất của nhà nước và chế độ đương thời. Ở nước ta, thực tế tiến hành cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” thông qua các mô hình tự quản cộng đồng cho thấy, vấn đề nâng cao được tính cộng đồng, phát huy tính tự giác, tự quản của mỗi cá nhân và tổ chức có ý nghĩa quyết định. Động lực của cuộc vận động là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở lấy lợi ích chung của cộng đồng dân cư làm điểm tương đồng, lấy sự tiến bộ và quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống của khu dân cư làm mục đích.
Trong cuộc vận động này đã xuất hiện rất nhiều tổ tự quản cộng đồng ở cơ sở như: tổ tự quản về thu gom và xử lý rác thải, tổ tự quản về an ninh trật tự và không có tệ nạn xã hội, tổ tuần tra nhân dân, tổ tự quản giúp nhau giảm nghèo, tự quản xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư,…. 18 Hoạt động của các tổ tự quản đã đem lại nhiều hiệu quả to lớn trên các lĩnh vực. Nó không chỉ góp phần bổ sung, trợ giúp cho chính quyền địa phương trong lĩnh vực quản lý xã hội, nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, làm sáng tỏ bản chất nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân mà còn phát huy được tính cộng đồng, tính tự quản của các cá nhân và tổ chức, tạo thành động lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.