Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐỘI NGŨ BÁC SĨ TRONG CÁC BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1. Quản lý Nhà nƣớc đối với đội ngũ bác sĩ trong các Bệnh viện công lập 1. Khái quát về quản lý Nhà nước 1. Khái niệm quản lý Nhà nước - Khái niệm về quản lý Căn cứ mục đích nghiên cứu, góc độ tiếp cận, mục tiêu hoạt động của từng ngành, lĩnh vực mà thuật ngữ Quản lý được hiểu theo từng nghĩa khác nhau.
Dưới góc độ quản lý theo khoa học, Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915) định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [1, tr. Theo quan điểm của F. Taylor thì quản lý chính là việc thực hiện các phương thức quản lý nhằm làm cho chủ thể quản lý và đối tượng quản lý gắn bó, hợp tác với nhau trong cùng một tổ chức để cùng hướng tới mục tiêu chung của tổ chức; để đạt được điều đó, nhà quản lý phải tiêu chuẩn hóa các công việc, lập kế hoạch, chỉ đạo, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đối tượng quản lý, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhằm kiểm soát và tối ưu hóa khả năng, năng lực của đối tượng quản lý. Dưới góc độ quan hệ con người, Mary Parker Follet (1868 - 1933) cho rằng “Con người luôn gắn liền với nhau trong một tổ chức nhất định mà sự hòa hợp, thống nhất giữa họ sẽ tạo ra nền tảng của các tổ chức kinh doanh và trở thành động lực cho tổ chức phát triển và đó cũng là thực chất của quản lý.
Theo quan điểm của Follet thì nhà quản lý phải căn cứ vào quyền lực, thẩm quyền được giao, chủ động nhận biết được những thời điểm 11 thích hợp và tùy vào hoàn cảnh cụ thể để đưa ra những biện pháp nhằm loại trừ mâu thuẫn thông qua việc thỏa thuận giá trị đạt được giữa các bên liên quan mà không phải là sự áp chế hay sự đưa ra mệnh lệnh đơn phương. Trên cơ sở nhìn nhận tổ chức – hệ thống, Chester Irwing Barnard (1886 -1961) cho rằng công việc quản lý “không phải là công việc của tổ chức mà là công việc chuyên môn duy trì hoạt động của tổ chức”, “cụ thể hơn, quản lý bao giờ cũng là việc quản lý một hệ thống tổ chức nhất định” [1, tr 165]. Theo Barnard, quản lý là hoạt động tạo điều kiện để phát huy được tính tự chủ, năng lực và ý chí của từng cá nhân trong khuôn khổ quy định của tổ chức và phù hợp với nghề nghiệp, từng vị trí được giao. Điều này sẽ tạo ra được yếu tố hiệu lực, hiệu quả của tổ chức.
Bergeron "Quản lý là hành động của việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các hoạt động của các thành viên của một tổ chức để thực hiện mục tiêu của tổ chức đó" [44, tr 41]. Quản lý là một phạm trù xuất hiện trước khi có Nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn. Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời khỏi lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động. Nhận thức về quản lý thay đổi theo từng thời kỳ, gắn chặt với thực tiễn nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội.
Điều đó có nghĩa khi trình độ sản xuất của xã hội ngày càng phát triển, hoạt động của nhà quản lý càng cần phải tuân theo các quy luật khách quan và phải vận dụng khéo léo, sáng tạo các phương pháp quản lý để tác động phù hợp lên từng đối tượng quản lý nhằm giải quyết các nhiệm vụ quản lý đặt ra. Từ đó cho thấy, quản lý vừa là một môn "Khoa học" vừa là một "Nghệ thuật" và là một “Nghề” mà ở đó đòi hỏi nhà quản lý phải đủ năng lực, trình độ để dẫn dắt, định hướng đối tượng quản lý thực hiện các nhiệm vụ phù hợp với từng điều kiện nhất định nhằm đạt được mục tiêu tổ chức đã đề ra. 12 Mặc dù có nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau về quản lý, tuy nhiên, có thể hiểu một cách tổng quát: Quản lý được xem là quá trình tổ chức, chỉ đạo, điều hành; là sự tác động có kế hoạch, mang tính chỉ huy, định hướng, hướng dẫn, kiểm tra của nhà quản lý đối với đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định do nhà quản lý đề ra dựa trên những quy luật khách quan. - Khái niệm về quản lý Nhà nước Có thể hiểu “Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặt biệt, mang tính quyền lực Nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội, do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển xã hội” [19.
Như vậy, quản lý Nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước, quản lý Nhà nước chính là quản lý toàn bộ các hoạt động của xã hội. Đó là quá trình các chủ thể mang tính quyền lực Nhà nước sử dụng nhiều biện pháp trên cơ sở hệ thống các thể chế do Nhà nước ban hành để tác động lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước. Quản lý Nhà nước là một dạng quản lý đặc biệt, khác với các loại quản lý khác do có những đặc điểm mang tính chuyên biệt, đặc thù mà các loại quản lý khác không có được, cụ thể: Về chủ thể quản lý: Là các cơ quan Nhà nước, các tổ chức và cá nhân được Nhà nước trao quyền thực hiện những hoạt động quản lý Nhà nước và được phân ra làm 03 loại: Cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp. Các cơ quan này được Nhà nước và nhân dân giao quyền, thẩm quyền cụ thể thông qua hệ thống các văn bản Luật, quy phạm pháp luật.
Về đối tượng và phạm vi quản lý: Quản lý Nhà nước là quản lý toàn dân và toàn diện ở tất cả các lĩnh vực. Nhà nước quản lý toàn bộ những người 13 sống, làm việc trên lãnh thổ quốc gia và công dân sống, làm việc ở ngoài lãnh thổ quốc gia; Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoai giao…) với nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ và trên cơ sở các quy định do pháp luật quy định. Về hoạt động quản lý Nhà nước: Đó là quá trình chấp hành các thể chế phạm pháp luật Nhà nước và điều hành các hoạt động của đối tượng bị quản lý. Đây là hoạt động mang tính tổ chức, tác động trực tiếp của Nhà nước lên đối tượng quản lý, trên cơ sở chủ động và vận dụng sáng tạo các phương pháp quản lý của một tổ chức bộ máy nhất định.
Về mục tiêu và công cụ quản lý: Nhà nước lấy pháp luật làm công cụ quản lý và sử dụng nó để làm cơ sở xử lý các hành vi vi phạm theo luật định một cách nghiêm minh nhằm duy trì sự ổn định, phát triển xã hội và phục vụ nhân dân. Quản lý Nhà nước đối với đội ngũ bác sĩ trong các Bệnh viện công lập - Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. Phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu và góc độ tiếp cận mà có nhiều các hiểu về nguồn nhân lực, cụ thể như sau: Xét dưới góc độ là nguồn cung cấp nguồn nhân lực cho xã hội: Thuật ngữ nguồn nhân lực chỉ toàn bộ số lượng người có thể làm việc khi cần thiết. Nguồn nhân lực xã hội phản ánh nguồn lực, tiềm năng của một quốc gia về con người, bao gồm những người đang làm việc, người chưa có việc làm và những người đang trong quá trình học tập, nghiên cứu.
Xét dưới góc độ tổ chức thì nguồn nhân lực: Là tất cả những người đang làm việc trong tổ chức ở tất cả các vị trí việc làm và những người đang 14 chờ đợi để có thể vào làm việc cho tổ chức, đây là nguồn nhân lực dự trữ cho tổ chức. Mỗi tổ chức có những yêu cầu, đòi hỏi riêng về chất lượng, tính chất đặc điểm của nguồn nhân lực mà nó sử dụng, từ đó có kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, xây dựng và nuôi dưỡng nguồn nhân lực cho tổ chức. Nguồn nhân lực trong tổ chức là một bộ phận cấu thành nên nguồn nhân lực xã hội. Xét dưới góc độ về số lượng và chất lượng: Về số lượng: Nguồn nhân lực được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấu độ tuổi, giới tính và sự phân bố dân số theo khu vực và vùng lãnh thổ; Việc này có sự khác nhau theo chính sách dân số của từng quốc gia.
Ở Việt Nam, số lượng nguồn nhân lực được xác định bao gồm: Tổng số người trong độ tuổi lao động (Theo quy định của Bộ Luật Lao động là từ 15 tuổi trở lên). Đây là lực lượng lao động tiềm năng của nền kinh tế - xã hội. Sự gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và gia tăng nguồn nhân lực, nghĩa là nguồn nhân lực có sự phát triển theo chu kỳ nhất định, định kỳ sau 15 năm sẽ xuất hiện một nguồn nhân lực mới để thay thế nguồn nhân lực hết tuổi lao động. Về chất lượng: Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực; được thể hiện thông qua những nét đặc trưng, bao gồm: Trạng thái thể lực, trí lực, kĩ năng lao động, phong cách, đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực.
Chất lượng nguồn nhân lực là kết tinh của nhiều yếu tố liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực như: Đảm bảo dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục và đào tạo, lao động và việc làm gắn với tiến bộ kỹ thuật, thù lao của người lao động và các mối quan hệ xã hội khác. Từ các quan điểm trên, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động.