phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần chính của Luận văn được kết cấu theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực y tế Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Lai Châu Chƣơng 3: Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Lai Châu. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân lực Nhân lực là nguồn lực có vai trò rất quan trọng và không thể thiếu đối với mọi hoạt động của một tổ chức, hoạt động của nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố do đó rất đa dạng và phức tạp.
Vì vậy, việc sử dụng nguồn nhân lực một cách hiệu quả đang là mục tiêu hàng đầu của các tổ chức. Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi người, bao gồm cả thể lực và trí lực; nó phản ánh sức người và khả năng lao động của con người. Thể lực chỉ tình trạng sức khoẻ của mỗi người, nó phụ thuộc vào sức vóc, độ tuổi, giới tính, mức sống, chế độ dinh dưỡng, chế độ làm việc và nghỉ ngơi. Đây là cơ sở quan trọng cho hoạt động thực tiễn của con người và đảm bảo cho con người có khả năng học tập và lao động lâu dài.
Trí lực là yếu tố phản ánh khả năng nhận thức, tư duy, là những thuộc tính về trí tuệ giúp con người nắm được tri thức, đó là năng lực trí tuệ. Nói đến trí lực là nói đến trình độ văn hoá và học vấn của con người, biểu hiện ở khả năng vận dụng những điều kiện vật chất vào hoạt động thực tiễn để đạt được mục tiêu. Trí lực là yếu tố trung tâm chỉ đạo hành vi của con người trong mọi hoạt động, là yếu tố quyết định khả năng sáng tạo của con người, là yếu tố đóng vai trò quan trọng và quyết định trong chất lượng nguồn nhân lực. Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động. 11 Từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, 2009 cho rằng: “Nhân lực là sức người về mặt dùng trong lao động sản xuất”. Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực trong thân thể của một con người. Nhân lực của một tổ chức là toàn bộ những khả năng lao động mà tổ chức cần và huy động được cho việc thực hiện và hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt và lâu dài của tổ chức.
Mặt khác, nhân lực còn được gọi là lao động sống, là một đầu vào độc lập có vai trò quyết định các đầu vào khác trong quá trình hoạt động của tổ chức. Như vậy, từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát nhân lực là thể lực và trí lực của mỗi người, nó phản ánh sức lực của con người làm cho con người hoạt động và phát triển. Nhân lực y tế được coi là một thành phần rất quan trọng của hệ thống y tế, là yếu tố chính bảo đảm hiệu quả và chất lượng dịch vụ y tế. Các lựa chọn của nhân viên y tế về sử dụng các nguồn lực khác (thuốc, trang thiết bị, chỉ định chuyên môn về lâm sàng, cận lâm sàng,…) ảnh hưởng lớn đến tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống y tế.
Quản lý và điều hành tốt nguồn nhân lực y tế không những giúp nâng cao chất lượng dịch vụ y tế mà còn tăng cường công bằng trong chăm sóc sức khỏe và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Vì vậy, các đặc tính và tầm quan trọng của nguồn nhân lực y tế trong việc đảm bảo hiệu quả, chất lượng và sự công bằng trong cung ứng dịch vụ y tế đòi hỏi phải có những chính sách và giải pháp phù hợp để sử dụng nguồn nhân lực y tế một cách có hiệu quả nhất. Nguồn nhân lực Hiện nay, khái niệm nguồn nhân lực đang được hiểu theo nhiều quan điểm khác nhau: Theo Liên Hợp Quốc định nghĩa: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [43, tr. 12 Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khác bởi con người là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ.
Ngân hàng Thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. Theo thuyết lao động xã hội: “Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [7, tr. Hay: “Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [7, tr.
Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực (2008) của trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [3, tr. Theo luận án tiến sĩ (2009) của TS. Lê Thị Mỹ Linh thì: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khoẻ và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp” [12, tr. Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những khái niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội.
Con người với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xem xét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng 13 hợp của cả số lượng và chất lượng; không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người với những tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. Từ những quan niệm trên, dưới nhiều góc độ, khía cạnh, có nhiều quan niệm về nguồn nhân lực. Nhưng nhìn chung theo tác giả thống nhất nội dung cơ bản: Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò trung tâm và quyết định sự phát triển kinh tế- xã hội của một quốc gia; đồng thời là chỉ tiêu đánh giá sự phát triển, tiến bộ xã hội của quốc gia. Theo đó, nguồn nhân lực trong tổ chức bao gồm ba mặt cơ bản: Số lượng nguồn nhân lực: thể hiện quy mô của tổ chức, số lượng nhân viên càng đông, qui mô tổ chức càng lớn và ngược số lượng nhân viên ít thì qui mô tổ chức nhỏ.
Cơ cấu nguồn nhân lực: thể hiện tính đa dạng cơ cấu nhân viên trong tổ chức qua trình độ học vấn, học hàm, độ tuổi, giới tính của nhân viên. Tính đa dạng và hợp lý của cơ cấu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của nguồn nhân lực trong tổ chức. Chất lượng nguồn nhân lực: được hiểu là năng lực của nhân viên trong công việc và cuộc sống thể hiện qua ba tiêu chí: Trí lực, thể lực. Phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa rất lớn đối với các cơ quan, đơn vị.
Nó là động lực, là chìa khóa mang lại lợi ích cho cả tổ chức và người lao động. Cụ thể đối với tổ chức: là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của tổ chức; đối với người lao động: đáp ứng nhu cầu phát triển của người lao động; đối với sự phát triển của ngành, địa phương, quốc gia: là yếu tố quyết định sự phát triển của một ngành, địa phương hay Quốc gia. Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực. 14 Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”[78].
Đứng trên quan điểm xem “con người là nguồn vốn - vốn nhân lực”, Yoshihara Kunio cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân” [95]. Theo Bùi Văn Nhơn trong sách quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hôị, xuất bản năm 2006: “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hôị ) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoa phát triển”. Từ những luận điểm trình bày trên, trong nghiên cứu này phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực.