Nhu cầu thực trạng và năng lực cốt lõi trong đào tạo thạc sĩ điều dưỡng ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nhu cầu thực trạng và một số năng lực cốt lõi trong đào tạo thạc sĩ điều dưỡng ở nước ta hiện nay, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Quản lý y tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

209
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Thực trạng và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng hiện nay

1.1.1. Thực trạng và nhu cầu nhân lực điều dưỡng, thạc sĩ điều dưỡng hiện nay

1.1.1.1. Tình hình chung về nguồn nhân lực điều dưỡng và nhu cầu sử dụng

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Thực trạng và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng hiện nay

Ngành điều dưỡng tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng. Theo thống kê, số lượng điều dưỡng viên hiện tại chưa đủ để phục vụ cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Nhu cầu đào tạo thạc sĩ điều dưỡng đang gia tăng, đặc biệt là trong bối cảnh dân số già hóa và sự gia tăng các bệnh mãn tính. Việc nâng cao năng lực cốt lõi cho người điều dưỡng là rất cần thiết để đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế. Chương trình đào tạo thạc sĩ điều dưỡng cần được thiết kế để đáp ứng các yêu cầu thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong ngành y tế.

1.1. Tình hình chung về nguồn nhân lực điều dưỡng và nhu cầu sử dụng

Trên thế giới, nhu cầu về điều dưỡng viên đang gia tăng mạnh mẽ. Nhiều quốc gia như Nhật Bản, Đức và Mỹ đang thiếu hụt nghiêm trọng lực lượng điều dưỡng. Tại Việt Nam, tình hình cũng không khả quan hơn khi tỷ lệ điều dưỡng viên trên số bác sĩ còn thấp. Theo báo cáo, tỷ lệ này chỉ đạt 1,8 điều dưỡng viên trên một bác sĩ, thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á. Điều này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường đào tạo và phát triển năng lực cốt lõi cho người điều dưỡng, nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của cộng đồng.

II. Năng lực và nhóm năng lực cốt lõi của thạc sĩ điều dưỡng

Năng lực cốt lõi của thạc sĩ điều dưỡng bao gồm các kỹ năng chuyên môn, khả năng quản lý và nghiên cứu. Chương trình đào tạo cần tập trung vào việc phát triển các kỹ năng điều dưỡng chuyên sâu, từ đó giúp người học có thể thực hiện tốt các nhiệm vụ trong công việc. Việc xác định rõ các nhóm năng lực cốt lõi sẽ giúp các cơ sở đào tạo xây dựng chương trình giảng dạy phù hợp, đáp ứng nhu cầu thực tiễn của ngành. Đặc biệt, việc đưa vào giảng dạy các kỹ năng mềm như giao tiếp, quản lý thời gian và làm việc nhóm cũng rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

2.1. Chuẩn năng lực người điều dưỡng và năng lực cốt lõi của thạc sĩ điều dưỡng

Chuẩn năng lực cho người điều dưỡng cần được xây dựng dựa trên các tiêu chí rõ ràng và cụ thể. Các cơ sở đào tạo cần tham khảo các chuẩn quốc tế để phát triển chương trình đào tạo thạc sĩ điều dưỡng. Việc này không chỉ giúp nâng cao chất lượng đào tạo mà còn tạo ra một đội ngũ điều dưỡng viên có khả năng làm việc hiệu quả trong môi trường quốc tế. Các nhóm năng lực cốt lõi như khả năng chăm sóc bệnh nhân, quản lý và lãnh đạo trong điều dưỡng cần được chú trọng, nhằm đảm bảo rằng người thạc sĩ điều dưỡng có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu trong công việc.

III. Đánh giá mức độ thành thạo các nhóm năng lực cốt lõi chuẩn đầu ra chương trình đào tạo thạc sĩ điều dưỡng

Đánh giá mức độ thành thạo của các thạc sĩ điều dưỡng là một yếu tố quan trọng trong việc cải thiện chất lượng đào tạo. Các nghiên cứu cho thấy rằng, mặc dù có sự gia tăng về số lượng thạc sĩ điều dưỡng, nhưng mức độ thành thạo trong các nhóm năng lực cốt lõi vẫn chưa đạt yêu cầu. Việc thực hiện các khảo sát và đánh giá định kỳ sẽ giúp các cơ sở đào tạo nhận diện được những điểm yếu trong chương trình giảng dạy và từ đó có những điều chỉnh kịp thời. Điều này không chỉ nâng cao năng lực cốt lõi của người học mà còn góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại Việt Nam.

3.1. Mức độ cần thiết đưa vào chương trình giảng dạy thạc sĩ điều dưỡng với từng nhóm năng lực nghiên cứu

Việc xác định mức độ cần thiết của từng nhóm năng lực trong chương trình giảng dạy là rất quan trọng. Các giảng viên và cán bộ quản lý cần tham gia vào quá trình này để đảm bảo rằng chương trình đào tạo đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Các nhóm năng lực như kỹ năng chăm sóc bệnh nhân, quản lý và lãnh đạo cần được đưa vào giảng dạy một cách có hệ thống. Điều này sẽ giúp người thạc sĩ điều dưỡng có thể tự tin hơn trong công việc và đóng góp tích cực vào sự phát triển của ngành y tế.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thực trạng và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng hiện nay 1. Thực trạng và nhu cầu nhân lực điều dưỡng, thạc sĩ điều dưỡng hiện nay 1. Tình hình chung về nguồn nhân lực điều dưỡng và nhu cầu sử dụng * Trên thế giới Những năm gần đây, cùng với sự già hóa dân số, tỷ lệ người già cần chăm sóc sức khỏe (CSSK) hàng ngày càng lớn tại nhiều quốc gia đã và đang phát triển.

Lực lượng điều dưỡng (ĐD) tại nhiều quốc gia không đáp ứng đủ theo nhu cầu chăm sóc người bệnh và sức khỏe toàn dân [19]. Nguồn lực điều dưỡng của một số quốc gia Trung Nhật Mỹ Đức Ấn Độ Chỉ số quốc Bản (2014) (2015) (2016) (2017) (2015) Dân số (triệu người) 1.324,17 Số giường bệnh (triệu giường) 7,85 0,94 1,73 0,66 0,93 Số bác sỹ lâm sàng (triệu người) 3,35 0,85 0,29 0,33 0,94 Số lượng ĐD và NHS (triệu người) 3,79 2,82 1,45 1,09 2,63 Số lượng giường bệnh/ nghìn dân 5,65 2,91 13,70 8,20 0,70 Số lượng BS lâm sàng/ nghìn dân 2,41 2,65 2,29 4,09 0,71 Số lượng ĐD/ nghìn dân 2,73 8,76 11,46 13,51 1,99 Số lượng ĐD / 01BS 1,13 3,31 5,00 3,30 2,80 *Nguồn: Số liệu thống kê quốc gia của Trung Quốc và Ngân hàng thế giới [19] Ở các quốc gia, nhu cầu về ĐD rất cao. Theo thống kê hằng năm của Nhật Bản [20], số lượng ĐD đã tăng gần gấp đôi từ 703,9 ngàn người (năm 2002) lên 1,3 triệu người (năm 2020) nhưng vẫn chưa đủ số lượng ĐD phục vụ tại các bệnh viện theo yêu cầu CSSK người dân, hàng năm vẫn thiếu hụt 4 khoảng 2. Theo công bố trên tờ Nhật Báo của Bộ Y tế - Lao động - Phúc lợi Nhật Bản đến năm 2025 vẫn thiếu khoảng 270 ngàn ĐD [21].

Tại Đức, trong năm 2021, có khoảng 14 nghìn vị trí ĐD thường trú còn trống. Trong tương lai, theo dự tính tới năm 2025 nước Đức cần 150.000 ĐD và đến năm 2030 có thể tăng lên 350.000 ĐD do sự già hóa dân số [22]. Theo dự báo việc làm của Cục Thống kê lao động của Mỹ cho biết: lực lượng ĐD dự kiến sẽ cần thêm 195 nghìn ĐD (từ 3,1 triệu năm 2021 đến 3,3 triệu năm 2031), và mở ra 203.200 cơ hội việc làm cho các ĐD mỗi năm đến 2031 để thay thế lượng ĐD nghỉ hưu và bỏ việc [23]. Trung Quốc ngay từ đầu thế kỷ 21 đã xác định cần phải bổ sung thêm đội ngũ y tế trong đó có ĐD và thay đổi quan điểm về người ĐD của quốc gia này.

Để đảm bảo nguồn nhân lực ĐD đến năm 2015 và cuối năm 2020 thì từ năm 2013 Trung Quốc cần bổ sung thêm hơn 1.000 người ĐD, chưa tính số người cần thay thế cho nghỉ hưu và bỏ việc [24]. Thái Lan, với mục tiêu đạt tỉ lệ 2,5 ĐD thường trú/1000 dân năm 2019 của Chính phủ thì số lượng người ĐD cần đào tạo thêm 33.112 người so với thời điểm 2014 [25]. Đến năm 2030 thế giới cần thêm khoảng 9 triệu ĐD thực hành. Tại khu vực Đông Nam Á, theo các khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về nguồn nhân lực y tế đã cho thấy sự thiếu hụt nhiều đội ngũ cán bộ y tế trong đó có ĐD; [26].

Các nước Đông Nam Á có thu nhập thấp, đến năm 2030 cần thêm 1,9 triệu người ĐD để đạt được mức trung bình thấp của khu vực 37 người ĐD/vạn dân và yêu cầu tối thiểu 40 người ĐD/vạn dân [27]. * Ở Việt Nam Tình hình nhân lực ĐD cũng chưa đủ, và có sự mất cân đối về trình độ. Theo Lê Vũ Anh và cộng sự (2013), nghiên cứu đánh giá hiện trạng đào tạo nhân lực y tế cho thấy sự mất cân đối về trình độ đào tạo (hơn 70% trình độ trung cấp), cũng như các vùng miền trong cơ cấu nhân lực ĐD (tập trung chủ 5 yếu tại các cơ sở công lập khu vực thành thị và kinh tế phát triển) [28]. Cũng trong báo cáo tại Hội nghị đào tạo nhân lực ĐD Việt Nam của Bộ Y tế năm 2013, Chương trình hành động quốc gia về tăng cường công tác ĐD - hộ sinh, giai đoạn từ nay đến năm 2020 [29] đã có những đánh giá về thực trạng nguồn nhân lực ĐD và công tác quản lý, sử dụng nguồn nhân lực ĐD.

Bên cạnh việc thiếu hụt nguồn nhân lực ĐD toàn quốc, thấy có sự mất cân đối về trình độ đào tạo dẫn đến sự dư thừa ở trình độ trung cấp và CĐ, thiếu ĐD trình độ ĐH, sau ĐH, lĩnh vực chuyên môn chuyên ngành sâu và phân bố không đều nhân lực ĐD giữa các vùng miền trên toàn quốc [30]. Trong báo cáo về kết quả công tác điều dưỡng năm 2015 và nhiệm vụ trọng tâm 2016-2017 của Cục Khám chữa bệnh (Bộ Y tế), tỷ số ĐD, hộ sinh/ BS là 1,8, thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á (Philippines: 5,1; Thái lan: 7,0; Indonesia: 8,0) [31]. Tỷ lệ này đến năm 2018 và 2019 có tăng nhưng vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra. Theo số liệu Thống kê dân số hằng năm của Tổng cục Thống kê và cho thấy số lượng người ĐD/vạn dân đạt 8,2 (năm 2015) và 13,9 (năm 2021).

Theo Báo cáo tổng quan ngành y tế 2015 (JAHR-2015) [30], số liệu thống kê y tế từ 2014 -2018 [32] và báo cáo của Hội ĐD năm 2021 [33] cho thấy trong những năm gần đây thông qua công tác đào tạo (đào tạo ở nước ngoài, đào tạo liên kết, liên thông, theo địa chỉ sử dụng, cử tuyển và đào tạo liên tục) nguồn nhân lực ĐD của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể cả về số lượng và chất lượng: số lượng người ĐD công tác trong hệ thống y tế đã tăng từ 86.536 người, trong đó tỷ lệ người ĐD có trình độ ĐH và sau ĐH đã tăng từ 7,1% (năm 2012) tăng lên 29,4% (năm 2021). Tuy nhiên, nhóm người ĐD có trình độ ĐH không phân bố đều cho các tuyến, tập trung nhiều ở tuyến trung ương và các tỉnh/ thành phố lớn. Theo báo cáo cho Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2020 toàn Việt Nam có 106.654 người ĐD và không có số liệu về người ĐD chuyên ngành sâu; đạt 11,4 điều dưỡng trên 10.000 dân tại Việt Nam [34]. 6 140000 ĐD trình độ TC, CĐ ĐD trình độ ĐH, SĐH 120000 38796 100000 16963 10786 12467 14771 7981 9426 80000 6114 người 60000 86640 88582 88485 88868 92740 40000 80312 83369 83797 20000 0 năm 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2021 Biểu đồ 1.

Số lượng điều dưỡng trình độ đại học và sau đại học, tổng số điều dưỡng tại Việt Nam *Nguồn: Thống kê y tế từ năm 2012 đến 2018 [32], [35] và báo cáo Hội Điều dưỡng năm 2021 [33] Dựa theo các báo cáo phân tích tình hình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam từ năm 2015 của các vùng và toàn quốc, Bộ Y tế đã đưa ra chiến lược và kế hoạch phát triển nhân lực y tế giai đoạn 2015 - 2020 trong đó đã xác định số lượng người ĐD cần có là trên 225.345, số lượng cần đào tạo bổ sung là khoảng 84 nghìn người ĐD cho tất cả các trình độ (trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học) đến 2020 [36]. Tuy nhiên, trong chiến lược vẫn đưa con số chung cho toàn ngành mà chưa có các hướng dẫn cụ thể về phạm vi hoạt động chuyên môn theo từng lĩnh vực chuyên ngành ĐD. Dự báo nhu cầu nhân lực theo loại cán bộ tới năm 2020 Cần có Chỉ tiêu Loại nhân lực Năm Số cần năm 2020 năm 2020 (người) 2011 (*) bổ sung (**) (***) Bác sỹ 44.851 Dược sỹ đại học 16.887 Kỹ thuật viên (các trình độ) 24.261 Các nhóm chuyên ngành khác 36.892 (*): Số liệu kiểm tra bệnh viện năm 2011- Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; (**): Dựa trên dự báo dân số Việt Nam năm 2020 là 97,5 triệu người, mỗi năm nhân lực y tế bị tiêu hao 5% do nghỉ hưu, chuyển công tác; (***): Số cán bộ trên 10. 7 Tổng hợp các báo cáo của Hội ĐD Quốc tế (ICN) và của WHO về nhu cầu nhân lực ĐD cho thấy đến năm 2030 trên toàn thế giới cần có thêm khoảng 13 triệu ĐD [37] và ở Việt Nam ước tính đến năm 2030 sẽ thiếu khoảng 40.

Thực trạng và nhu cầu nhân lực thạc sĩ điều dưỡng Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực ngành là khoảng cách giữa thực tế nguồn nhân lực ngành và những yêu cầu, mong muốn của người quản lý và người lao động về ngành nghề đó ở hiện tại và tương lai (theo các kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của đơn vị) thì đó là số lượng người lao động cần có và các tiêu chuẩn năng lực người lao động cần đạt được [38]. Căn cứ trên yêu cầu công việc và thực trạng nguồn nhân lực để tính nhu cầu đào tạo cho phù hợp. Ngoài số lượng cần có thì chất lượng nguồn nhân lực cũng cần được đào tạo để đáp ứng yêu cầu thực hiện công việc [39]. Như vậy, nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng là số lượng ĐD cần được đào tạo thêm đáp ứng với các tiêu chuẩn năng lực ngành phù hợp với mục tiêu, yêu cầu chăm sóc, điều trị người bệnh theo từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội.

Đặc biệt đối với ngành ĐD yêu cầu năng lực rất cần thiết vì ngành liên quan trực tiếp đến tình hình sức khỏe con người [40]. * Thực trạng và nhu cầu nhân lực thạc sĩ điều dưỡng thế giới Nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận định ĐD trình độ đại học là mức tối thiểu để tiếp tục học lên thực hành ĐD và các trình độ thạc sĩ và tiến sĩ ĐD, từ đó người ĐD có nhiều cơ hội việc làm hơn (mở ra nhiều “cánh cửa” trong tương lai) [7]. Theo Hiệp hội các trường đào tạo Điều dưỡng tại Mỹ, người ĐD ngày nay nên có bằng thạc sĩ để tăng cường kiến thức và các kỹ năng lâm sàng để cung cấp có hiệu quả các dịch vụ chăm sóc cứu sinh và duy trì sự sống [14]. Người ĐD được trang bị thêm kiến thức trình độ thạc sĩ sẽ giúp họ có các kỹ năng, kế hoạch chăm sóc, quản lý người bệnh được tốt hơn và họ sẽ có nền tảng cốt lõi vững chắc để tiến xa hơn trong con đường 8 học thuật, tiếp tục học chuyên sâu cao hơn ở trình độ tiến sĩ [41], [42].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nhu cầu và năng lực cốt lõi trong đào tạo thạc sĩ điều dưỡng tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự cần thiết và các năng lực quan trọng trong chương trình đào tạo thạc sĩ điều dưỡng. Tác giả phân tích nhu cầu ngày càng tăng về nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực y tế, đồng thời nhấn mạnh các năng lực cốt lõi mà sinh viên cần phát triển để đáp ứng yêu cầu của ngành. Bài viết không chỉ giúp các nhà quản lý giáo dục và sinh viên hiểu rõ hơn về chương trình đào tạo mà còn chỉ ra những lợi ích thiết thực cho sự nghiệp của các điều dưỡng viên.

Để mở rộng thêm kiến thức về phát triển nguồn nhân lực trong ngành y tế, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Lai Châu. Bài viết này sẽ cung cấp thêm thông tin về các chiến lược và thách thức trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế tại một địa phương cụ thể, từ đó giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.