Tổng quan nghiên cứu

Thị trường du lịch nội địa Việt Nam đã chứng kiến bước tăng trưởng vượt bậc từ 11,2 triệu lượt khách vào năm 2000 lên đến 73,2 triệu lượt khách vào năm 2017. Tại Thủ đô Hà Nội, lượng khách du lịch duy trì mức tăng trưởng bình quân trên 10% mỗi năm; riêng năm 2014, thành phố đã đón gần 15,5 triệu lượt khách nội địa và 3 triệu lượt khách quốc tế, chiếm tỷ trọng khoảng 40% so với cả nước. Sự gia tăng nhanh chóng về nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng đã thúc đẩy số lượng doanh nghiệp lữ hành nội địa tại Hà Nội vượt mốc 900 đơn vị vào năm 2017, với tốc độ gia tăng trung bình xấp xỉ 100 doanh nghiệp mới mỗi năm.

Tuy nhiên, sự bùng nổ về số lượng cũng bộc lộ nhiều bất cập mang tính cấu trúc. Tình trạng kinh doanh mang tính mùa vụ, chộp giật, cạnh tranh không lành mạnh và sự buông lỏng quản lý sau sự kiện sáp nhập địa giới hành chính tỉnh Hà Tây vào Hà Nội năm 2008 đã tạo ra những kẽ hở pháp lý đáng kể. Đặc biệt, việc thành lập độc lập Sở Du lịch Hà Nội vào tháng 9 năm 2015 và sự ra đời của Luật Du lịch năm 2017 đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công cụ quản lý nhà nước đối với mảng lữ hành nội địa.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Du lịch của tác giả Nguyễn Đạo Dũng, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thị Minh Hòa tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung đánh giá toàn diện hoạt động quản lý nhà nước của Sở Du lịch Hà Nội đối với hệ thống doanh nghiệp lữ hành nội địa. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là phân tích hiện trạng thực thi công vụ từ giai đoạn 2008 đến 2018, nhận diện các điểm nghẽn thể chế, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị thực tiễn nhằm tối ưu hóa hiệu lực quản lý, bảo vệ quyền lợi du khách và nâng cao năng lực cạnh tranh của du lịch Thủ đô trong giai đoạn 2020–2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp chặt chẽ giữa hai nền tảng lý thuyết chính: Lý thuyết Quản lý hành chính nhà nước và Mô hình Quản trị công ngành du lịch hiện đại. Theo khoa học quản lý hành chính, quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực công đối với các quá trình xã hội nhằm duy trì trật tự pháp luật và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Khi vận dụng vào lĩnh vực du lịch, quản lý nhà nước thực hiện 4 chức năng cốt lõi: Hoạch định chiến lược - chính sách, Tổ chức - phối hợp bộ máy, Điều tiết - can thiệp thị trường và Kiểm soát - thanh tra việc chấp hành pháp luật.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm nền tảng:

  • Quản lý nhà nước về du lịch: Quá trình cơ quan có thẩm quyền sử dụng pháp luật, quy chuẩn và chính sách để định hướng, điều phối hoạt động du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn theo Điều 73 Luật Du lịch năm 2017.
  • Doanh nghiệp lữ hành nội địa: Thực thể kinh doanh chịu trách nhiệm xây dựng, bán và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch phục vụ công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam theo Điều 37 Luật Du lịch năm 2017.
  • Mạng lưới dịch vụ du lịch vệ tinh: Hệ thống liên kết gồm cơ sở lưu trú, nhà hàng ẩm thực, đơn vị vận tải, hướng dẫn viên và điểm tham quan chịu sự điều phối trực tiếp từ chương trình tour của doanh nghiệp lữ hành.
  • Công cụ điều tiết tài chính và cấp phép: Cơ chế bắt buộc ký quỹ kinh doanh 100 triệu đồng và cấp phép hoạt động nhằm sàng lọc năng lực tài chính, loại trừ các đơn vị hoạt động tự phát.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình thu thập dữ liệu đa nguồn kết hợp định tính và định lượng:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Báo cáo định kỳ của Sở Du lịch Hà Nội, UBND Thành phố Hà Nội giai đoạn 2008–2017, Niên giám thống kê du lịch, các văn kiện chỉ đạo gồm Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết 06-NQ/TU của Thành ủy Hà Nội.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả tiến hành điều tra qua bảng hỏi với quy mô cỡ mẫu phát ra là 30 phiếu, thu về 20 phiếu hợp lệ từ các cán bộ quản lý trực tiếp tại các doanh nghiệp lữ hành nội địa trên địa bàn thành phố (tỷ lệ phản hồi đạt 66,7%). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling), tập trung vào các nhà quản lý doanh nghiệp có từ 3 năm kinh nghiệm trở lên nhằm đảm bảo tính xác thực và chiều sâu của dữ liệu khảo sát.
  • Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Phương pháp thống kê mô tả (descriptive statistics) kết hợp phân tích so sánh đối chiếu được lựa chọn vì cho phép lượng hóa mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với từng thủ tục hành chính, đồng thời làm rõ sự tương thích giữa văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn vận hành trước và sau thời điểm Luật Du lịch 2017 có hiệu lực.
  • Timeline khảo sát: Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua 2 đợt khảo sát thực địa chuyên sâu vào tháng 01 năm 2018 và tháng 03 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực tế và tổng hợp số liệu đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về hoạt động của các doanh nghiệp lữ hành nội địa cũng như công tác quản lý của Sở Du lịch Hà Nội:

  • Phát hiện 1: Quy mô doanh nghiệp tăng trưởng nhanh nhưng cấu trúc nội bộ còn manh mún. Đến năm 2017, toàn thành phố có hơn 900 doanh nghiệp lữ hành nội địa, tăng thêm gần 100 đơn vị mỗi năm. Tuy nhiên, đại đa số là công ty TNHH và công ty cổ phần quy mô vừa và nhỏ; mô hình tổ chức phổ biến tình trạng nhân sự kiêm nhiệm (một nhân viên phụ trách cùng lúc hành chính, kế toán, thị trường và hướng dẫn), dẫn đến tính chuyên nghiệp chưa cao và sản phẩm tour còn trùng lặp, sao chép lẫn nhau.
  • Phát hiện 2: Đột phá trong cải cách thủ tục hành chính và cấp phép. Việc triển khai quy định cấp giấy phép kinh doanh lữ hành nội địa và ký quỹ 100 triệu đồng theo Luật Du lịch 2017 đã tạo bước chuyển biến tích cực. Kết quả điều tra thực tế cho thấy 72% doanh nghiệp đánh giá rất hài lòng và 24% hài lòng về thủ tục cấp phép, giấy chứng nhận; chỉ có 14% chưa hài lòng. Đối với thủ tục thu hồi giấy phép, 54% đánh giá rất hài lòng và 43% đánh giá hài lòng.
  • Phát hiện 3: Nhu cầu bồi dưỡng nhân lực rất lớn nhưng thời lượng đào tạo chưa đáp ứng kỳ vọng. Về công tác đào tạo của Sở Du lịch, 79% doanh nghiệp hài lòng về nội dung tổ chức và 92% hài lòng về hình thức bồi dưỡng. Tuy nhiên, về tiêu chí thời gian đào tạo, tỷ lệ rất hài lòng chỉ đạt 28% (72% dừng ở mức hài lòng thông thường), trong khi quy mô đào tạo chỉ có 11% rất hài lòng. Điều này phản ánh sự thiếu hụt các khóa đào tạo dài hạn, chuyên sâu.
  • Phát hiện 4: Phân bố địa bàn thiếu cân đối và áp lực nhân lực tương lai. Doanh nghiệp lữ hành phân bố không đều, chủ yếu tập trung tại các quận trung tâm và rất thưa thớt tại các huyện ngoại thành, khu vực vành đai làng nghề. Trong khi đó, theo Quy hoạch phát triển du lịch Hà Nội, lực lượng lao động trực tiếp cần đạt 127.800 người vào năm 2020 và tăng lên 250.000 người vào năm 2030 (lao động gián tiếp tương ứng là 383.400 và 750.000 người).

Thảo luận kết quả

Các dữ liệu nghiên cứu phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa vai trò điều phối của Sở Du lịch và hiệu quả kinh doanh của mạng lưới lữ hành. Khi được trình bày dưới dạng bảng thống kê mức độ hài lòng và biểu đồ tăng trưởng giai đoạn 2008–2017, bức tranh quản lý du lịch Thủ đô bộc lộ rõ tính hai mặt: vừa có sự bứt phá về lưu lượng khách và doanh thu, vừa chịu sức ép lớn về chất lượng dịch vụ vệ tinh (lưu trú, ăn uống, vận tải, điểm đến).

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại xuất phát từ lịch sử quản lý: trước ngày 01 tháng 01 năm 2018, Luật Du lịch năm 2005 không bắt buộc doanh nghiệp lữ hành nội địa phải có giấy phép hay ký quỹ tài chính, dẫn đến việc cơ quan nhà nước chủ yếu quản lý theo hình thức hậu kiểm lỏng lẻo. So sánh với các trung tâm du lịch lớn như Thành phố Hồ Chí Minh hay Đà Nẵng, số lượng doanh nghiệp lữ hành Hà Nội lọt vào danh sách Top 10 uy tín toàn quốc năm 2017 còn rất hạn chế (chỉ có Hanoitourist và Vietnamtourism Hà Nội). Điều này khẳng định việc siết chặt tiêu chuẩn cấp phép, duy trì tiền ký quỹ và đẩy mạnh kiểm tra liên ngành là định hướng hoàn toàn đúng đắn để tái cấu trúc thị trường du lịch Thủ đô.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước của Sở Du lịch Hà Nội:

  • Chuẩn hóa quy trình pháp lý và giám sát nghĩa vụ ký quỹ: Ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ cụ thể hóa Luật Du lịch 2017 và Nghị định 168/2017/NĐ-CP; chỉ đạo Phòng Quản lý Lữ hành đảm bảo 100% doanh nghiệp lữ hành nội địa hoàn thành thủ tục cấp phép trong thời hạn 10 ngày làm việc và thực hiện ký quỹ bắt buộc 100 triệu đồng, hoàn thành toàn diện trong giai đoạn 2018–2020.
  • Hiện đại hóa quản trị hành chính và tuyên truyền pháp luật: Sở Du lịch Hà Nội chủ trì phối hợp với UBND 30 quận, huyện chuyển đổi số 100% quy trình tiếp nhận hồ sơ sang cổng dịch vụ công trực tuyến, phấn đấu cắt giảm 20% thời gian xử lý thủ tục hành chính đến năm 2021; đồng thời duy trì đường dây nóng 24/7 nhằm tiếp nhận và giải quyết kịp thời phản ánh của du khách.
  • Nâng cao chất lượng và quy mô đào tạo nguồn nhân lực: Phòng Quản lý Lữ hành phối hợp với các cơ sở đào tạo đại học tổ chức tối thiểu 15 lớp bồi dưỡng chuyên sâu/năm về chuyển đổi số, thiết kế sản phẩm và văn hóa ứng xử du lịch; hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghiệp vụ đạt 85% vào năm 2020, đáp ứng chỉ tiêu 127.800 lao động trực tiếp theo quy hoạch phát triển của thành phố.
  • Tăng cường thanh tra liên ngành và liên kết chuỗi giá trị: Thanh tra Sở Du lịch phối hợp chặt chẽ với lực lượng Quản lý thị trường và Công an thành phố tổ chức kiểm tra định kỳ tối thiểu 150 doanh nghiệp/năm, kiên quyết xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, tour du lịch kém chất lượng; đồng thời kích hoạt Kế hoạch số 06/KH-SDL để kết nối doanh nghiệp lữ hành với các điểm du lịch làng nghề ngoại thành từ năm 2019.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý tại Sở Du lịch và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố: Cung cấp mô hình tham chiếu thực tiễn về quy trình cấp phép, quản lý tiền ký quỹ, phương thức thanh tra, kiểm tra và cơ chế phối hợp liên ngành sau khi tách sở chuyên môn độc lập.
  • Ban lãnh đạo và nhà điều hành các doanh nghiệp lữ hành nội địa: Giúp doanh nghiệp nắm bắt đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý theo Luật Du lịch 2017, nhận diện điểm yếu trong mô hình tổ chức kiêm nhiệm, từ đó tái cấu trúc bộ máy kinh doanh và nâng cao chất lượng dịch vụ theo chuẩn mực thị trường.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Du lịch, Quản lý công: Tài liệu học thuật giá trị về phương pháp nghiên cứu thực chứng, cách tiếp cận hệ thống trong quản trị du lịch địa phương và bộ dữ liệu khảo sát thực tế có độ tin cậy cao.
  • Hiệp hội Du lịch Hà Nội và các tổ chức xúc tiến thương mại: Cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng chương trình liên kết tour tuyến, hỗ trợ hội viên tiếp cận chính sách đào tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi cung ứng dịch vụ Thủ đô.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Luật Du lịch năm 2017 lại bắt buộc doanh nghiệp lữ hành nội địa phải ký quỹ và cấp phép hoạt động?

Luật Du lịch năm 2017 bổ sung quy định bắt buộc có giấy phép và tiền ký quỹ 100 triệu đồng nhằm khắc phục lỗ hổng của Luật Du lịch năm 2005. Quy định này tạo sự bình đẳng pháp lý giữa lữ hành nội địa và quốc tế, xác định năng lực tài chính của doanh nghiệp, đồng thời là nguồn quỹ giải quyết bồi thường rủi ro, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho du khách khi xảy ra sự cố.

Doanh nghiệp lữ hành nội địa giữ vai trò như thế nào trong hệ thống du lịch Hà Nội?

Doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò là hạt nhân liên kết và điều phối 5 dịch vụ vệ tinh trọng yếu bao gồm cơ sở lưu trú, nhà hàng, đơn vị vận tải, đội ngũ hướng dẫn viên và các điểm tham quan. Thông qua việc tổ chức tour, các đơn vị này trực tiếp thúc đẩy doanh thu du lịch thành phố tăng trưởng bình quân trên 10% mỗi năm.

Thực trạng cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp lữ hành nội địa trên địa bàn Hà Nội có đặc điểm gì?

Phần lớn trong số hơn 900 doanh nghiệp lữ hành tại Hà Nội là doanh nghiệp vừa và nhỏ dạng công ty TNHH hoặc cổ phần. Do nguồn lực tài chính hạn chế, bộ máy nhân sự thường kiêm nhiệm nhiều vị trí (vừa làm hành chính, kế toán, vừa làm thị trường và hướng dẫn), dẫn đến tính chuyên nghiệp chưa cao và sản phẩm tour còn trùng lặp.

Doanh nghiệp lữ hành đánh giá như thế nào về công tác cải cách thủ tục hành chính của Sở Du lịch Hà Nội?

Kết quả khảo sát trên 20 nhà quản lý doanh nghiệp cho thấy mức độ đồng thuận cao: 72% đánh giá rất hài lòng với thủ tục cấp phép và 54% rất hài lòng với thủ tục thu hồi giấy phép. Điều này chứng minh hiệu quả chỉ đạo đúng đắn của Sở Du lịch Hà Nội kể từ khi tách thành cơ quan hành chính chuyên môn độc lập năm 2015.

Dự báo nhu cầu nhân lực du lịch của Thủ đô đặt ra thách thức gì cho công tác đào tạo của ngành?

Theo quy hoạch phát triển, ngành du lịch Hà Nội cần 127.800 lao động trực tiếp vào năm 2020 và lên tới 250.000 người vào năm 2030. Đây là áp lực rất lớn đòi hỏi Sở Du lịch phải nâng cấp quy mô và kéo dài thời lượng các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ, thay vì các lớp tập huấn ngắn ngày chỉ có 28% doanh nghiệp đánh giá rất hài lòng như khảo sát năm 2018.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và khung pháp lý về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp lữ hành nội địa trong bối cảnh thực thi Luật Du lịch năm 2017.
  • Khắc họa chân thực bức tranh phát triển của hơn 900 doanh nghiệp lữ hành tại Hà Nội, chỉ rõ những bước tiến vượt bậc về lượng khách cùng các hạn chế về quy mô manh mún và sự phân bố thiếu đồng đều.
  • Phân tích thực chứng mức độ hài lòng của doanh nghiệp thông qua dữ liệu khảo sát năm 2018, khẳng định tính hiệu quả của cải cách thủ tục cấp phép (72% rất hài lòng) và chỉ ra điểm nghẽn trong thời lượng đào tạo nguồn nhân lực.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao, gắn liền trách nhiệm của Sở Du lịch Hà Nội với các mốc chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ cấp phép 100%, cắt giảm 20% thời gian xử lý hồ sơ và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 85%.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ công tác quy hoạch phát triển du lịch Thủ đô, hướng tới mục tiêu đáp ứng nhu cầu 250.000 lao động trực tiếp và 750.000 lao động gián tiếp vào năm 2030.

Nghiên cứu mở ra hướng đi thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách du lịch tại các địa phương trong cả nước. Để khai thác tối đa giá trị khoa học và số liệu thực chứng của công trình, các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp lữ hành nên chủ động tham khảo chi tiết toàn văn đề tài nhằm vận dụng hiệu quả vào công tác chuyển đổi mô hình quản trị du lịch hiện đại.