CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Trong những năm qua, đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách, các cơ quan nghiên cứu cũng như của các doanh nghiệp và người dân. Đó là vấn đề tất yếu trước sự phát triển hết sức nhanh chóng của hệ thống đô thị và quá trình đô thị hoá mạnh mẽ diễn ra trên phạm vi cả nước. Quá trình này đòi hỏi phải cải tạo, nâng cấp hoặc xây dựng mới nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật tại các đô thị, trong đó không thể không nhắc tới là hệ thống cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải ở các đô thị. Chính vì vậy, các nghiên cứu về đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị là một đề tài tương đối phổ biến, bắt đầu phát triển từ cuối những năm 2000s khi quan điểm của Đảng và Nhà nước ngày càng chú trọng hơn đến vai trò của hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong phát triển kinh tế xã hội của các đô thị trên cả nước.
Tuy vậy, hầu hết các nghiên cứu tập trung vào hệ thống giao thông đô thị, có ít các tài liệu tìm hiểu sâu vào lĩnh vực đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị và xử lý nước thải cũng như hoạt động quản lý Nhà nước đối với vấn đề này. Trong quá trình triển khai nghiên cứu luận án, NCS đã tiếp cận khoảng trên dưới 50 đầu tài liệu dưới dạng: giáo trình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các bài tham luận và rất nhiều các bài viết, bài tạp chí,… có chủ đề liên quan đến quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị từ vốn Nhà nước. Về cơ bản, tất cả các công trình nghiên cứu mà tác giả thu thập và tìm hiểu được có liên quan đến luận án tập trung vào 3 hướng nghiên cứu sau: (1) Nghiên cứu về thực trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị, trong đó có hệ thống cấp thoát nước đô thị; (2) Nghiên cứu về hoạt động đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị ở Việt Nam cũng như một số quốc gia trên thế giới; 21 (3) Nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước đô thị trên các khía cạnh: công tác quy hoạch, hệ thống văn bản pháp lý, xây dựng chính sách, công tác thanh tra giám sát…; Dưới đây, NCS tổng quan lại nội dung căn bản của các tài liệu đã tìm hiểu, và trên cơ sở đó, đánh giá mức độ có thể tham khảo cho luận án của tác giả. Tình hình nghiên cứu về kết cấu hạ tầng đô thị, hệ thống cấp thoát nước và xử lý nước thải ở các đô thị - “Phát triển cơ sở hạ tầng tại Việt Nam và những khó khăn thách thức đặt ra” - Bài tham luận Hội thảo ngành nước 2012 của Vụ kết cấu hạ tầng và Đô thị, Bộ Kế hoạch và Đầu tư [42].
Theo bài tham luận, trong những năm qua, nguồn lực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trong đó có hệ thống cấp thoát nước đô thị ngày càng lớn và đa dạng. Tỷ lệ vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng chiếm khoảng 24,5% tổng đầu tư xã hội, bằng khoảng 9% GDP, trong đó vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước chiế m 65%. Nhiều hình thức đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng cùng các mô hình, phương thức đầu tư, kinh doanh các dịch vụ hạ tầng được đa dạng hóa, mở rộng, các doanh nghiệp đầu tư vào các dự án theo hình thức BOT, BTO và BT ngày càng nhiều. Bài tham luận cũng đã nghiên cứu trực diện về vấn đề cấp nước và thoát nước.
Cụ thể, về cấp nước, đến năm 2010, cả nước có 420 hệ thống cấp nước tập trung với tổng công suất thiết kế cấp nước đô thị đạt 6,2 triệu m3/ngàyđêm, tăng gấp ba lần năm 1998 (2,1 triệu m3/ngày-đêm); tỷ lệ dân số đô thị được cung cấp nước đạt khoảng 76%; mức sử dụng nước sạch đô thị đạt 90 lít/người/ngày; tất cả các thành phố, thị xã đều đã có các dự án đầu tư cải tạo mở rộng hệ thống cấp nước; 45% thị trấn có hệ thống cấp nước tập trung với quy mô từ 500 - 5. Tỷ lệ nước cấp cho sinh hoạt chiếm khoảng 60 - 70%, cho nhu cầu sản xuất công nghiệp từ 20 - 25% và cho các dịch vụ khác khoảng 10 - 15% lượng nước sản xuất. Về thoát nước đô thị, có bước phát triển, tỷ lệ chiều dài tuyến cống trên đầu người các đô thị lớn đạt 0,2 - 0,25 m/người, các đô thị nhỏ khác đạt từ 0,05 - 0,08 m/người. Hầu hết các thành phố, thị xã là tỉnh lỵ cơ bản đã có hệ thống thoát nước.
Tại các khu công nghiệp và các khu đô thị mới 22 đều đã và đang xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải tập trung. Đến 2010 đã có 8 đô thị xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung với tổng công suất xử lý đạt khoảng 315.000 m3/ngày-đêm, hơn 30 đô thị đang xây dựng hoặc chuẩn bị xây dựng trạm xử lý nước thải. Nhiều dự án thoát nước lớn tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ bước đầu đã phát huy hiệu quả, góp phần làm giảm mức độ ngập úng vào mùa mưa. Nghiên cứu đã chỉ ra một số bất cập trong ngành nước ở nước ta thời gian qua.
Thứ nhất, cấp nước chưa đáp ứng được nhu cầu. Tỷ lệ thất thoát nước sạch đô thị ở mức cao khoảng 30%, riêng ở thành phố Hồ Chí Minh là 39%; tỷ lệ dân cư đô thị được cấp nước của Hà Nội mới đạt khoảng 88,5% và thành phố Hồ Chí Minh khoảng 87%. Thứ hai, hệ thống thoát nước còn hạn chế, lạc hậu. Phổ biến nhất ở các đô thị là hệ thống thoát nước chung cho cả ba loại nước thải sinh hoạt, nước thải sản xuất và nước mưa.
Hầu hết các đô thị đều không có trạm xử lý nước thải tập trung, nước thải sinh hoạt, bệnh viện, công nghiệp không qua xử lý mà xả thẳng vào hệ thống cống thành phố, hồ ao, kênh rạch, sông ngòi… gây ô nhiễm nặng nề. Tại các khu công nghiệp và các khu đô thị mới đều đang xây dựng hệ thống thoát nước riêng, tuy vậy vẫn chưa triệt để. Thứ ba, tình trạng ngập úng đang là vấn đề lớn cần phải giải quyết của các thành phố lớn. Các dự án cải tạo và xây dựng hệ thống thoát nước của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian vừa qua chưa giải quyết một cách tổng thể cho hệ thống thoát nước thành phố.
Ở Hà Nội, các dự án mới dừng ở cải tạo hệ thống nước mưa cho 4 quận nội thành cũ, hệ thống hồ điều hòa, các tuyến mương, cống chưa hoàn chỉnh theo quy hoạch được duyệt. Triển khai các dự án chống ngập cho thành phố Hồ Chí Minh còn chậm. - “Hiện trạng thoát nước tại các đô thị” của tác giả Nguyễn Tấn Hiệp đăng trên Tạp chí Xây dựng, số 6 năm 2014. Bài nghiên cứu đã đánh giá điều kiện về tự nhiên – kinh tế và xã hội của các đô thị lớn ở nước ta để cho thấy những ảnh hưởng đến khả năng thoát nước tự chảy của các đô thị, từ đó nảy sinh các yêu cầu phải xây dựng hệ thống thoát nước và xử lý nước thải ở các đô thị.
Trước hết, đặc trưng của đô thị nước ta là sự phát triển gắn liền với việc khai thác và sử dụng các nguồn nước mặt (sông, biển. Hệ thống thoát nước 23 đô thị cũng liên quan mật thiết đến chế độ thuỷ văn của hệ thống sông, hồ. Hơn nữa, nước ta thuộc vùng khí hậu nóng ẩm: mưa nhiều, độ ẩm lớn, nhiệt độ và độ bức xạ cao. Sự phân bố không đều về lượng mưa, độ ẩm, độ bức xạ.
theo không gian và thời gian sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thoát nước và chất lượng môi trường nước trong các đô thị. Mỗi năm có khoảng 8 - 10 cơn bão, gây thiệt hại trung bình 2 - 3% thu nhập quốc dân và ảnh hưởng rất lớn tới thoát nước đô thị. Bài nghiên cứu đã mô tả khá chi tiết về hiện trạng hệ thống thoát nước ở các đô thị ở nước ta. Theo đó, hệ thống thoát nước phổ biến nhất ở các đô thị của Việt Nam là hệ thống thoát nước chung.
Phần lớn những hệ thống này được xây dựng cách đây khoảng 100 năm, chủ yếu để thoát nước mưa, ít khi được sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng nên đã xuống cấp nhiều; việc xây dựng bổ sung được thực hiện một cách chắp vá, không theo quy hoạch lâu dài, không đáp ứng được yêu cầu phát triển đô thị. Các dự án thoát nước đô thị chủ yếu sử dụng vốn ODA đã và đang được triển khai thực hiện thường áp dụng kiểu hệ thống chung trên cơ sở cải tạo nâng cấp hệ thống hiện có. Các kênh rạch thoát nước chủ yếu là sử dụng kênh rạch tự nhiên, nền và thành bằng đất do vậy thường không ổn định. Theo báo cáo của các công ty thoát nước và công ty môi trường đô thị, tất cả các thành phố, thị xã của cả nước đều bị ngập úng cục bộ trong mùa mưa.
Điển hình như TP Hồ Chí Minh (trên 100 điểm ngập), Hà Nội (trên 30 điểm), Đà Nẵng, Hải Phòng cũng có rất nhiều điểm bị ngập úng… Qua đánh giá hiện trạng thoát nước đô thị, tác giả đã cho rằng việc qui hoạch, xây dựng hệ thống thoát nước là chưa hợp lý, việc quản lý phối hợp giữa các ngành giao thông công chính và các ngành khác chưa chặt chẽ, đã gây ra không ít những khó khăn và phức tạp trong quản lý thoát nước hiện nay. Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải ở Việt Nam cần được tiến hành qui hoạch và xây dựng cải tạo đầy đủ và đồng thời với qui hoạch phát triển đô thị. Việc xử lý nước thải chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường nguồn tiếp nhận, cần được nghiên cứu và tăng cường về đầu tư xây dựng. - “Báo cáo đánh giá lĩnh vực cấp thoát nước và vệ sinh môi trường ở Việt Nam” – nghiên cứu của Bộ Y tế phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới WHO và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc UNICEF xuất bản tháng 8/2012.
Đây là báo 24 cáo đánh giá lĩnh vực cấp nước và vệ sinh môi trường đầu tiên ở Việt Nam.