Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CỤM CÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan về cụm công nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của cụm công nghiệp Cụm công nghiệp (tiếng Anh là industrial cluster) trên thực tế được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Các nhà kinh tế học theo lý thuyết cổ điển như Marshall (1920), Weber (1929) cho rằng lý do các doanh nghiệp tập trung ở một khu vực địa lý là nhằm tận dụng lợi ích kinh tế theo quy mô do sự tập trung của lực lượng lao động, các yếu tố đầu vào, các dịch vụ chuyên biệt và để tận dụng sự lan tỏa của công nghệ.
Các nhà kinh tế theo lý thuyết kinh tế mới như Krugman (1995), Venables (1996) lại cho rằng cấu trúc không gian của các hoạt động kinh tế được hình thành là do tác động của lực tập trung và lực phân tán. Lực tập trung dẫn tới sự quy tụ của các hoạt động kinh tế là do nguồn cung lao động và các yếu tố đầu vào dồi dào, sự lan tỏa của công nghệ. Potter (1990, 2000) lại xem xét CCN từ góc độ cạnh tranh coi sự hình thành của các CCN là một chiến lược kinh doanh nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của một khu vực trong môi trường cạnh tranh toàn cầu. Quan điểm này của Potter đề cập nhiều tới năng lực cạnh tranh của một quốc gia hay một khu vực, theo đó các CCN là nơi tập trung của các mối liên kết quan trọng và là nơi có sự lan tỏa của công nghệ, kỹ năng, thông tin.
Do những lợi thế này, các doanh nghiệp có năng suất cao hơn và khả năng đổi mới lớn hơn và do vậy có thể tăng cường năng lực cạnh tranh của mình. Theo Potter, CCN là sự tập trung về mặt địa lý của các công ty, các tổ chức có liên quan trong một lĩnh vực cụ thể nào đó và bao gồm một loạt các ngành gắn kết với nhau. CCN tập trung các nhà cung cấp đầu vào, khách hàng tiêu thụ sản phẩm, cũng như những người sản xuất các sản phẩm khác có liên quan. 9 Theo Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế quản lý CNN, CCN là khu vực tập trung các DN, cơ sở sản xuất CN-TTCN, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất CN-TTCN; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 68/2017/NĐ-CP về quản lý và phát triển CCN: CCN là nơi sản xuất, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, được đầu tư xây dựng nhằm thu hút, di dời các DN nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác vào đầu tư sản xuất kinh doanh. Như vậy, có thể hiểu CCN là một hệ thống sản xuất địa phương, được đặc trưng bởi sự tập trung theo địa lý các DN sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có sự chuyên môn hóa trong cùng một hoạt động hoặc một nhóm các hoạt động bổ trợ cho nhau. Sự tập trung theo địa lý của các DN đã tạo ra các thể chế thúc đẩy sự hình thành và phát triển các mối quan hệ, sự hợp tác và cạnh tranh giữa các DN trong cùng lãnh thổ, đồng thời tạo ra mạng lưới các nhà cung cấp, mạng lưới khách hàng và tạo ra sự đổi mới, các lợi ích chung cho các thành viên trong cùng lãnh thổ. Về tính chất hoạt động: CCN là khu tập trung các DN có quy mô vừa và nhỏ, chuyên sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp hay cung ứng dịch vụ phục vụ sản xuất.
CCN có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 10 ha. Riêng đối với cụm công nghiệp ở các huyện miền núi và cụm công nghiệp làng nghề có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới 5 ha. Việc Quy hoạch xây dựng CCN phải được Nhà nước phê duyệt; chủ đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật; có khả năng lấp đầy 30% DN sau 01 năm thành lập. Các CCN góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế, tạo việc làm cho người dân, mang lại thu nhập ổn định và nâng cao cho người dân.
10 Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp trong từng giai đoạn do ngân sách trung ương đảm bảo; chỉ đạo xử lý, giải quyết các vi phạm, vấn đề vướng mắc phát sinh vượt thẩm quyền của các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Về tổ chức quản lý: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về cụm công nghiệp trên cả nước; phân công trách nhiệm, quyền hạn cụ thể từng bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan liên quan; ban hành chính sách, văn bản quy phạm pháp luật về cụm công nghiệp. Các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ngoài phạm vi quyền hạn, trách nhiệm nêu tại Nghị định 68/2017/NĐ-CP thì còn có trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực và quản lý theo lãnh thổ đối với cụm công nghiệp; kiểm tra, thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền; hướng dẫn, phân cấp hoặc ủy quyền cho Sở Công Thương, Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước thuộc thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này và của pháp luật liên quan. Về lĩnh vực, ngành, nghề, cơ sở sản xuất, kinh doanh được khuyến khích đầu tư, di dời vào cụm công nghiệp được pháp luật quy định: Các cơ sở sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm trong làng nghề, khu dân cư, đô thị và các cơ sở sản xuất khác cần di dời vào cụm công nghiệp.
Sản xuất các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ thuộc Danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển do Chính phủ ban hành. Sản xuất các sản phẩm tiêu dùng, sử dụng nguyên liệu tại chỗ, lao động ở địa phương. Các ngành, nghề, sản phẩm có thể mạnh của địa phương, vùng và các lĩnh vực, ngành, nghề khác phù hợp quy hoạch phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của địa phương. Công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản.
Vai trò của cụm công nghiệp đối với phát triển kinh tế - xã hội Phát triển CCN đóng góp tích cực vào thành tựu tăng trưởng và phát triển KT – XH của đất nước, việc phát triển CCN góp phần thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư, khơi dậy và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước, bổ sung nguồn vốn quan trọng trong tổng vốn đầu tư xã hội, gia tăng kim ngạch 11 xuất khẩu, góp phần mở rộng thị trường quốc tế, thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu; đóng góp đáng kể vào nguồn thu ngân sách và tạo việc cho người lao động. Việc thành lập các CCN góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động, giải quyết việc làm tại chỗ; đồng thời khắc phục tình trạng sản xuất phân tán, tạo thuận lợi cho công tác quản lý, kiểm soát về môi trường. Bên cạnh những đóng góp thiết thực và hiệu quả nêu trên, việc hình thành và phát triển các CCN đã có tác động lan tỏa đến các khu vực khác của nền kinh tế, trong đó có việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp, tham gia chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, phát triển đô thị, thúc đẩy liên kết ngành và liên kết vùng, bảo vệ môi trường sinh thái, mở rộng quan hệ đối ngoại,… Quy hoạch phát triển CCN gắn quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp, sử dụng đất, phát triển đô thị và các quy hoạch khác có liên quan, góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa. Việc phát triển CCN đã góp phần tích cực trong việc hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích đổi mới thủ tục hành chính.
Hạ tầng kỹ thuật các CCN từng bước được đầu tư đồng bộ, tạo quỹ đất sạch thu hút đầu tư sản xuất, kinh doanh, trên cơ sở đó chọn lọc thu hút các dự án đầu tư chất lượng, có tính bền vững. Kết cấu hạ tầng ngoài CCN được chú trọng đầu tư, đặc biệt là hệ thống giao thông kết nối với các tuyến đường cao tốc, quốc lộ và tỉnh lộ, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội. Việc phát triển các CCN sẽ tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư vào phát triển công nghiệp, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, áp dụng khoa học kỹ thuật; đồng thời góp phần sản xuất thêm nhiều hàng hóa tiêu dùng nội địa và sản phẩm phục vụ xuất khẩu. Quản lý nhà nước đối với các cụm công nghiệp 1.
Khái niệm quản lý nhà nước đối với các cụm công nghiệp 12 QLNN là một dạng của quản lý xã hội, mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh, duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu đã xác định; đó là hoạt động được thực hiện bởi toàn bộ các cơ quan trong bộ máy nhà nước được đặt trong cơ chế Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Như vậy có thể hiểu QLNN đối với CCN là hoạt động tổ chức và điều hành cơ quan hành chính nhà nước đối với hoạt động phát triển các CCN; là chức năng đặc thù của cơ quan hành chính nhà nước về kinh tế, thực hiện quyền lực nhà nước tác động đối với quá trình hình thành và phát triển CCN trên một phạm vi lãnh thổ nhất định của quốc gia, thông qua công tác quy hoạch, kế hoạch; ban hành và thực thi chính sách pháp luật có liên quan CCN; đồng thời thanh tra, kiểm tra, giám sát và giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành và phát triển khu, cụm công nghiệp.nhằm đạt được mục tiêu đã xác định cho sự phát triển CCN đáp ứng yêu cầu của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và mang lại lợi ích cho phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và địa phương nói riêng.