Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Bình Định giữ vị thế chiến lược trong Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung với tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng, thể hiện qua mức tăng GRDP đạt 8,57% vào năm 2022, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng 30,05%. Để tạo động lực phát triển kinh tế nông thôn và chuyển dịch cơ cấu lao động, tỉnh đã phê duyệt quy hoạch 61 cụm công nghiệp với tổng diện tích 2.042,9 ha, quy mô bình quân 33,49 ha/cụm, vượt trội so với mức bình quân 27 cụm công nghiệp trên mỗi tỉnh thành của cả nước.

Mặc dù đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút đầu tư, công tác quản lý nhà nước đối với các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: tiến độ đầu tư hạ tầng kỹ thuật đạt 53,1% so với kế hoạch vốn, diện tích mặt bằng sạch bàn giao còn hạn chế và chỉ có 9 trên 61 cụm công nghiệp hoàn thành trạm xử lý nước thải tập trung. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng công tác quản lý nhà nước giai đoạn 2017 – 2021, từ đó xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ giai đoạn 2022 – 2025 nhằm nâng cao hiệu lực quản lý, cải thiện môi trường đầu tư và tối ưu hóa hiệu quả khai thác quỹ đất công nghiệp tại 11 đơn vị hành chính cấp huyện. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp luận cứ khoa học giúp chính quyền địa phương hoàn thiện thể chế quản lý, hướng tới mục tiêu nâng cao tỷ lệ lấp đầy từ mức 64,1% hiện tại lên trên 75% và tối ưu hóa 16.139,3 tỷ đồng vốn đăng ký của các dự án thứ cấp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản lý hành chính công hiện đại kết hợp với mô hình phát triển cụm liên kết ngành (Industrial Cluster Theory) của Michael Porter và quan điểm phát triển kinh tế bền vững. Trọng tâm lý thuyết tập trung vào vai trò điều tiết, định hướng và kiến tạo của Nhà nước thông qua các công cụ quy hoạch, chính sách ưu đãi đất đai, cấp phép đầu tư và giám sát môi trường.

Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm: Cụm công nghiệp (được xác định theo Nghị định số 68/2017/NĐ-CP với quy mô diện tích từ 10 ha đến 75 ha đối với cụm thông thường và từ 5 ha đến 75 ha đối với cụm công nghiệp làng nghề); Quản lý nhà nước đối với cụm công nghiệp; Kết cấu hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp; và Tỷ lệ lấp đầy quỹ đất công nghiệp. Các mô hình lý thuyết này khẳng định vai trò của cụm công nghiệp trong việc giải quyết việc làm cho hơn 500.000 lao động trên toàn quốc và nâng cao giá trị gia tăng nội địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn xác thu thập từ Sở Công thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thống kê tỉnh Bình Định cùng các báo cáo kinh tế - xã hội giai đoạn 2017 – 2021.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 61 cụm công nghiệp (tổng diện tích 2.042,9 ha) trên địa bàn 11 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bình Định. Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là phương pháp điều tra toàn bộ (census) kết hợp chọn mẫu chủ đích đối với 43 cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động và 11 doanh nghiệp làm chủ đầu tư hạ tầng kỹ thuật. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính bao quát, phản ánh đúng đặc thù phân bổ không gian công nghiệp từ vùng đồng bằng ven biển như Quy Nhơn, Tuy Phước đến khu vực trung du, miền núi như An Lão, Vĩnh Thạnh. Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian (time-series analysis) và so sánh đối chiếu đa chiều, giúp lượng hóa chính xác hiệu quả giải ngân vốn đầu tư hạ tầng 1.517,3 tỷ đồng và năng lực thu hút 415 dự án thứ cấp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về quy hoạch và thành lập, toàn tỉnh đã có 52/61 cụm công nghiệp được ban hành quyết định thành lập với tổng diện tích 1.521,3 ha, trong đó 51 cụm được phê duyệt quy hoạch chi tiết với diện tích đất công nghiệp đạt 1.082,2 ha. Tuy nhiên, tỷ lệ cụm hoàn thành hạ tầng kỹ thuật đồng bộ chỉ đạt 19,67% (12/61 cụm), còn lại 31 cụm đang trong quá trình thi công kéo dài.

Thứ hai, hiệu quả thu hút đầu tư thứ cấp và tỷ lệ lấp đầy ghi nhận mức khả quan: 43 cụm công nghiệp đang hoạt động có diện tích đất công nghiệp 916,8 ha, đã cho thuê 588 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 64,1%, cao hơn mức trung bình 63% của cả nước. Tỉnh đã thu hút 415 dự án đăng ký đầu tư với tổng vốn 16.139,3 tỷ đồng, trong đó 290 dự án đã đi vào sản xuất, vốn thực hiện đạt 5.552,3 tỷ đồng (chiếm tỷ lệ 34,4%), suất đầu tư bình quân đạt 38,9 tỷ đồng/dự án.

Thứ ba, công tác xã hội hóa hạ tầng bước đầu có chuyển biến tích cực khi thu hút được 11 doanh nghiệp tham gia làm chủ đầu tư xây dựng kinh doanh hạ tầng 13 cụm công nghiệp với tổng diện tích 472,4 ha. Nhóm này có tổng vốn đăng ký 1.707,5 tỷ đồng, vốn thực hiện đạt 1.137,1 tỷ đồng (tương đương 66,6%), đạt tỷ lệ lấp đầy 56,6% với 150,8 ha đất công nghiệp đã cho thuê.

Thứ tư, công tác bảo vệ môi trường và giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập: toàn tỉnh mới có 9/61 cụm công nghiệp hoàn thành trạm xử lý nước thải tập trung (đạt tỷ lệ 14,75%), suất đầu tư hạ tầng bình quân toàn tỉnh chỉ đạt khoảng 2,5 tỷ đồng/ha, dẫn đến nguy cơ quá tải môi trường và chậm tiến độ bàn giao đất.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những tồn tại trên xuất phát từ công tác dự báo quy hoạch ngành nghề chưa sát thực tế, năng lực tài chính và quản lý dự án của Ban Quản lý cấp huyện còn hạn chế, cùng vướng mắc trong đơn giá bồi thường giải phóng mặt bằng. Khi so sánh với tỉnh Quảng Nam (55 cụm công nghiệp hoạt động, tỷ lệ lấp đầy 65,1%, thu hút 275 dự án) và tỉnh Quảng Ngãi (18 cụm công nghiệp hoạt động, tỷ lệ lấp đầy 60%, vốn đăng ký 2.500 tỷ đồng), Bình Định có số lượng cụm công nghiệp nhiều hơn nhưng quy mô vốn thực hiện bình quân trên mỗi hécta còn thấp.

Trong nghiên cứu, các chuỗi số liệu thực trạng được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột chồng so sánh cơ cấu vốn đăng ký và vốn thực hiện, kết hợp cùng bảng ma trận tổng hợp đối chiếu tỷ lệ lấp đầy của 11 huyện thị. Điều này cho thấy tính cấp thiết của việc cơ cấu lại nguồn lực đầu tư công và chuyển mạnh sang mô hình doanh nghiệp kinh doanh hạ tầng chuyên nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện công tác quy hoạch và quản lý xây dựng: UBND tỉnh chỉ đạo Sở Xây dựng phối hợp Sở Công thương tiến hành rà soát, tích hợp 61 cụm công nghiệp vào quy hoạch tỉnh thời kỳ mới; kiên quyết loại bỏ hoặc sáp nhập các cụm có diện tích manh mún dưới 10 ha không khả thi, nâng quy mô bình quân lên mức tối ưu 40 – 50 ha, hoàn thành 100% việc điều chỉnh quy hoạch chi tiết trước quý IV/2024.

Thứ hai, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật: Nâng tỷ lệ vốn thực hiện hạ tầng từ mức 53,1% lên trên 80% vào năm 2025. UBND các huyện, thị xã, thành phố tập trung tháo gỡ điểm nghẽn bồi thường đất đai; Sở Tài nguyên và Môi trường đôn đốc triển khai xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung, đặt mục tiêu nâng từ 9 cụm hiện tại lên 43 cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý đạt chuẩn trước năm 2025.

Thứ ba, đổi mới chính sách xúc tiến và hỗ trợ thu hút đầu tư: Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì xây dựng danh mục dự án ưu tiên công nghệ cao, công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản xuất khẩu; phấn đấu tăng tỷ lệ vốn thực hiện của các dự án thứ cấp từ mức 34,4% lên 60% giai đoạn 2022 – 2025; thu hút thêm ít nhất 8 đến 10 nhà đầu tư hạ tầng có tiềm lực tài chính mạnh.

Thứ tư, tăng cường thanh tra, kiểm tra và nâng cao năng lực bộ máy quản lý: Sở Công thương thiết lập quy chế phối hợp liên ngành kiểm tra định kỳ hàng năm việc chấp hành pháp luật môi trường, sử dụng đất đúng mục đích tại 415 dự án thứ cấp; tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ quản lý kinh tế cho 100% cán bộ thuộc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và Phát triển quỹ đất cấp huyện đến năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, lãnh đạo và cán bộ công chức tại các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Công thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Xây dựng, UBND cấp huyện): Luận văn cung cấp bức tranh toàn diện về hệ thống 61 cụm công nghiệp, bộ công cụ theo dõi 1.517,3 tỷ đồng vốn hạ tầng và khung tham chiếu chính sách điều hành thực tiễn.

Thứ hai, các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng và nhà đầu tư sản xuất kinh doanh thứ cấp: Cung cấp thông tin chi tiết về vị trí địa lý, hiện trạng hạ tầng, đơn giá thuê đất và chính sách ưu đãi tại các địa bàn trọng điểm như An Nhơn (12 cụm), Tây Sơn (12 cụm), Hoài Nhơn (12 cụm) để lập phương án kinh doanh khả thi.

Thứ ba, các nhà khoa học, giảng viên và viện nghiên cứu kinh tế: Tài liệu cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng chuẩn xác về kinh tế vùng duyên hải miền Trung, đóng góp nguồn tư liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu về chuỗi giá trị công nghiệp địa phương.

Thứ tư, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Chính sách công: Luận văn là hình mẫu điển hình trong việc ứng dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính, xử lý cỡ mẫu 61 cụm công nghiệp gắn với khung phân tích chính sách công cấp tỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ lấp đầy của các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Định đạt mức bao nhiêu?
Tính đến giai đoạn khảo sát, toàn tỉnh có 43 cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất công nghiệp 916,8 ha, trong đó diện tích đã cho thuê đạt 588 ha, tương ứng tỷ lệ lấp đầy 64,1%, cao hơn mức trung bình 63% của cả nước.

Điểm nghẽn lớn nhất trong công tác đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp tại Bình Định là gì?
Vấn đề lớn nhất là tiến độ đầu tư hạ tầng kỹ thuật chậm khi vốn thực hiện mới đạt 1.517,3 tỷ đồng trên tổng số 2.860,3 tỷ đồng (đạt 53,1%), đồng thời mới có 12/61 cụm hoàn thiện đồng bộ hạ tầng và suất đầu tư bình quân thấp ở mức 2,5 tỷ đồng/ha.

Hiệu quả thu hút doanh nghiệp làm chủ đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp diễn ra như thế nào?
Toàn tỉnh đã thu hút được 11 doanh nghiệp làm chủ đầu tư hạ tầng tại 13 cụm công nghiệp với tổng diện tích 472,4 ha. Khối doanh nghiệp này đã giải ngân 1.137,1 tỷ đồng vốn thực hiện trên tổng số 1.707,5 tỷ đồng đăng ký (đạt 66,6%), thu hút lấp đầy 150,8 ha đất công nghiệp.

Hiện trạng công tác bảo vệ môi trường tại các cụm công nghiệp Bình Định ra sao?
Công tác xử lý môi trường còn nhiều hạn chế khi toàn tỉnh mới có 9/61 cụm công nghiệp xây dựng hoàn thành hệ thống xử lý nước thải tập trung (đạt tỷ lệ 14,75%), nhiều cụm do cấp huyện quản lý chưa được đầu tư trạm xử lý đạt chuẩn quy chuẩn kỹ thuật.

Bình Định rút ra bài học kinh nghiệm gì từ các tỉnh lân cận như Quảng Nam và Quảng Ngãi?
Tỉnh cần tập trung quy hoạch cụm công nghiệp gắn liền với hạ tầng giao thông kết nối, ưu tiên lựa chọn doanh nghiệp tư nhân làm chủ đầu tư hạ tầng chuyên nghiệp như mô hình Quảng Nam (55 cụm thu hút 275 dự án) và lựa chọn ngành công nghiệp mũi nhọn theo lợi thế so sánh.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với mạng lưới 61 cụm công nghiệp quy mô 2.042,9 ha trên địa bàn 11 đơn vị hành chính tỉnh Bình Định.
  • Đánh giá chuẩn xác kết quả phát triển công nghiệp địa phương với tỷ lệ lấp đầy đạt 64,1%, thu hút 415 dự án thứ cấp và huy động thành công 1.137,1 tỷ đồng vốn thực hiện từ 11 doanh nghiệp hạ tầng.
  • Nhận diện rõ 4 hạn chế cốt lõi về giải phóng mặt bằng, tiến độ giải ngân hạ tầng kỹ thuật (53,1%) và tỷ lệ cụm có hệ thống xử lý nước thải tập trung còn thấp (14,75%).
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền các mốc chỉ tiêu cụ thể cho giai đoạn 2022 – 2025, định hướng nâng tỷ lệ vốn thực hiện thứ cấp lên 60%.
  • Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy giúp các nhà hoạch định chính sách tỉnh Bình Định ban hành cơ chế mới, thúc đẩy giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng bền vững trên 9,29% mỗi năm. Các cấp chính quyền và cơ quan quản lý cần khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp này nhằm kiến tạo môi trường đầu tư công nghiệp hiện đại, bền vững.