Luận án tiến sĩ về quản lý nhà nước đối với báo chí đối ngoại ở Việt Nam hiện nay

Luận án tiến sĩ nghiên cứu quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại ở việt nam hiện nay, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại Việt Nam.

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

215
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÁO CHÍ ĐỐI NGOẠI

1.1. Một số vấn đề lý luận về báo chí đối ngoại

1.2. Các yếu tố của quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại

1.3. Đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÁO CHÍ ĐỐI NGOẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Khái quát về hoạt động của báo chí và báo chí đối ngoại ở Việt Nam hiện nay

2.2. Những thành tựu trong quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại và nguyên nhân

2.3. Một số hạn chế và nguyên nhân

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÁO CHÍ ĐỐI NGOẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Một số vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại

3.2. Xu hướng quản lý báo chí đối ngoại của Việt Nam trong những năm tới

3.3. Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại trong thời gian tới

3.4. Một số khuyến nghị

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại tại Việt Nam

Quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại tại Việt Nam là một lĩnh vực quan trọng trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Báo chí đối ngoại không chỉ là công cụ truyền thông mà còn là phương tiện để nâng cao hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Theo Luật Báo chí năm 2016, báo chí ở Việt Nam được xác định là phương tiện thông tin thiết yếu, có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho công chúng và thực hiện chức năng giám sát xã hội. Tuy nhiên, thực trạng quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại hiện nay vẫn còn nhiều thách thức cần được giải quyết.

1.1. Định nghĩa và vai trò của báo chí đối ngoại

Báo chí đối ngoại được hiểu là các cơ quan báo chí hoạt động chủ yếu nhằm cung cấp thông tin cho đối tượng nước ngoài. Vai trò của báo chí đối ngoại không chỉ dừng lại ở việc thông tin mà còn bao gồm việc xây dựng hình ảnh, quảng bá văn hóa và chính sách của Việt Nam ra thế giới. Điều này giúp nâng cao nhận thức và hiểu biết của cộng đồng quốc tế về đất nước và con người Việt Nam.

1.2. Các cơ quan quản lý báo chí đối ngoại tại Việt Nam

Các cơ quan quản lý báo chí đối ngoại tại Việt Nam bao gồm Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Ngoại giao và các cơ quan báo chí chủ lực như Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam. Những cơ quan này có trách nhiệm xây dựng và thực hiện các chính sách, quy định liên quan đến hoạt động báo chí đối ngoại, đảm bảo thông tin được cung cấp chính xác và kịp thời.

II. Thực trạng quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại ở Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều thành tựu nhưng cũng không ít hạn chế. Các cơ quan báo chí đối ngoại đã có những bước phát triển đáng kể về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề như thiếu tính đồng bộ trong các văn bản pháp luật, sự chồng chéo trong quản lý và thiếu sự sáng tạo trong nội dung thông tin.

2.1. Những thành tựu trong quản lý báo chí đối ngoại

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong quản lý báo chí đối ngoại. Sự phát triển của các kênh truyền thông đa dạng đã giúp nâng cao khả năng tiếp cận thông tin của công chúng quốc tế. Các cơ quan báo chí đối ngoại đã tích cực tham gia vào việc quảng bá hình ảnh Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

2.2. Những thách thức trong quản lý báo chí đối ngoại

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại vẫn gặp phải nhiều thách thức. Hệ thống văn bản pháp luật chưa đầy đủ, các cơ quan quản lý thiếu chuyên nghiệp trong xử lý các vấn đề phát sinh. Điều này dẫn đến tình trạng một số cơ quan báo chí không thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, ảnh hưởng đến chất lượng thông tin.

III. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Các giải pháp này không chỉ tập trung vào việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật mà còn cần cải thiện năng lực của các cơ quan quản lý và nâng cao chất lượng nội dung thông tin.

3.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật

Cần thiết phải hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến báo chí đối ngoại, đảm bảo tính đồng bộ và khả thi trong thực tiễn. Việc này sẽ giúp các cơ quan báo chí hoạt động hiệu quả hơn, đồng thời giảm thiểu các hiện tượng tiêu cực trong hoạt động báo chí.

3.2. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý

Đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý báo chí đối ngoại là một trong những giải pháp quan trọng. Cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về quản lý báo chí, giúp cán bộ có đủ kiến thức và kỹ năng để thực hiện nhiệm vụ quản lý hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về báo chí đối ngoại

Nghiên cứu về quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại đã chỉ ra nhiều ứng dụng thực tiễn quan trọng. Các kết quả nghiên cứu không chỉ giúp cải thiện chất lượng thông tin mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan báo chí đối ngoại. Việc áp dụng các giải pháp nghiên cứu vào thực tiễn sẽ góp phần nâng cao hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

4.1. Các mô hình quản lý hiệu quả

Nghiên cứu đã chỉ ra một số mô hình quản lý hiệu quả trong hoạt động báo chí đối ngoại. Những mô hình này không chỉ giúp nâng cao chất lượng thông tin mà còn tạo ra sự đồng bộ trong hoạt động của các cơ quan báo chí, từ đó nâng cao hiệu quả truyền thông đối ngoại.

4.2. Kết quả đạt được từ các nghiên cứu

Các nghiên cứu về quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Những kết quả này không chỉ giúp cải thiện chất lượng nội dung thông tin mà còn nâng cao khả năng phản ứng nhanh chóng trước các thông tin sai lệch từ bên ngoài.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của báo chí đối ngoại tại Việt Nam

Kết luận về quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại tại Việt Nam cho thấy cần có những bước đi mạnh mẽ hơn trong tương lai. Việc nâng cao chất lượng quản lý không chỉ giúp cải thiện hình ảnh Việt Nam mà còn góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Triển vọng tương lai của báo chí đối ngoại phụ thuộc vào khả năng thích ứng và đổi mới của các cơ quan báo chí.

5.1. Định hướng phát triển báo chí đối ngoại

Định hướng phát triển báo chí đối ngoại trong thời gian tới cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng nội dung và hình thức thông tin. Cần có những chiến lược cụ thể để quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới một cách hiệu quả hơn.

5.2. Tương lai của quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại

Tương lai của quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại sẽ phụ thuộc vào khả năng cải cách và đổi mới của các cơ quan quản lý. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan để đảm bảo thông tin được cung cấp chính xác và kịp thời, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của báo chí đối ngoại.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ quản lý nhà nước về báo chí đối ngoại ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1: Toàn cầu hóa và báo chí quốc tế và chương 5: Kỹ thuật tiêu chuẩn: Quản lý tin tức và báo chí quốc tế) cho rằng, quản lý báo chí là một trong những phương thức lãnh đạo của mọi quốc gia. Báo chí phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, việc đưa báo chí trong nước ra nước ngoài đều phải đảm bảo theo những tiêu chuẩn, quy định về báo chí nói chung của mỗi nước cũng như đội ngũ nhà báo trong quá trình tác nghiệp cũng phải được quản lý theo những quy định chung của mỗi nước. Đây dường như là điều kiện bắt buộc giúp cho các cơ quan quản lý báo chí tập trung chỉ đạo việc đưa các nội dung thông tin lên báo chí và quản lý đội ngũ nhà báo. Cuốn sách Sức mạnh của truyền thông trong chính trị (2006) [51] của Doris A.Graber thuộc trường Đại học Illinois, Mỹ và cuốn sách Sức mạnh của tin tức truyền thông [103] của tác giả Michael Schudson (2003) chỉ ra những thay đổi của đời sống chính trị ở châu Mỹ với sự tác động của truyền, sự động này có tầm ảnh hưởng sâu rộng giữa người làm báo với các nhà chính trị.

Ngoài ra, tác giả đưa ra những dự đoán về sự phát triển của truyền thông trong tương lai, tác động của truyền thông kiểu cũ và mới vào chính trường và vai trò của các nhà báo trong vận động hành lang có thể dẫn đến hậu quả làm chệch hướng các luật và quy định về truyền thông. Những dự đoán 15 này ngày càng được thực tiễn kiểm chứng tính đúng đắn trong đời sống chính trị và những gợi ý cho việc quản lý truyền thông đang trở thành vấn đề cấp thiết. Cuốn sách Hội tụ truyền thông và mô hình kinh doanh truyền thông phát triển: Cơ hội tổng quan và chiến lược [191] của tác giả Simon McPhillips (2008), Giám đốc Truyền thông tại Sprint Nextel Corp, Hoa Kỳ và Omar Merlo thuộc Đại học Cambridge, Anh nhận định: Sự hội tụ truyền thông đem đến nhiều cơ hội song nhiều nhà quan sát trong ngành công nghiệp truyền thông lại bi quan về những thay đổi như vậy. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy ngành công nghiệp truyền thông có thể nắm lấy cơ hội này, vì có rất nhiều mô hình kinh doanh truyền thông đang phát triển.

Các tác giả cung cấp một cái nhìn tổng quan toàn diện về những thay đổi ảnh hưởng đến ngành công nghiệp truyền thông, xác định cách thức mô hình kinh doanh truyền thông đang phát triển, với những hậu quả và cuối cùng, xác định và thảo luận các cơ hội chính cho những người tham gia vào quá trình kinh doanh truyền thông. Cuốn sách Sổ tay quản lý truyền thông: Cẩm nang cho các học viên truyền hình và phát thanh ở các nước trong quá trình chuyển đổi (2009) [177] của tác giả John Prescott Thomas, cung cấp một số kinh nghiệm cho việc quản lý các tổ chức truyền thông về cơ cấu và tổ chức bộ máy, kế hoạch chiến lược và quản trị tài chính, kế hoạch và quản lý nguồn nhân lực… ở nhiều bối cảnh truyền thông khác nhau và đặc biệt liên quan đến các quốc gia đang phát triển. Trong đó tác giả đưa ra một số nghiên cứu trường hợp tại một số cơ quan truyền thông nhằm gợi ý cho về cách tổ chức quản lý truyền hình trong bối cảnh thế giới thay đổi. Cuốn sách Quản lý phóng viên báo chí nước ngoài trong quá khứ, hiện tại và tương lai trước xu thế toàn cầu báo chí của Dannika Lewis (2010) thuộc đại học Elon (Mỹ) cho rằng, sự kết nối của báo chí đối ngoại ngày càng phức tạp.

Vì lẽ đó, sự thăng trầm và phát triển của báo chí đối ngoại nước ngoài trong suốt lịch sử, hiện tại và tương lai cần phải được quan tâm. Tuy nhiên, các nội dung đăng tải trên báo chí đối ngoại cần phải được xác minh nhằm tránh sự sai lệch dẫn đến việc tiếp nhận và hiểu sai vấn đề. Các nhà báo có thể cung cấp nhiều kiến thức và thông tin với ngôn ngữ và văn hóa ra thế giới nhưng cách họ thể hiện đôi khi lại chưa hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu của nơi cần cung cấp thông tin cũng như yêu cầu của các quốc gia có tờ báo đối ngoại. Khi các văn phòng thường trú và phóng viên hoạt động ở nước ngoài có thể không hiệu quả trong việc đưa tin các vấn đề toàn cầu phức tạp họ cần phải được hướng dẫn, quản lý [174].

16 Cuốn sách Truyền thông đại chúng trong một thế giới đang thay đổi [181], tác giả George R. Rodman(2011), chủ nhiệm khoa Phát thanh Truyền hình thuộc Đại học Brooklyn, New York giới thiệu về thế giới truyền thông đại chúng dưới dạng một kết cấu có tổ chức. Trong đó tập trung vào các vấn đề về lịch sử truyền thông, công nghệ truyền thông và những tranh luận xung quanh vấn đề truyền thông trong thế giới đang thay đổi. Ngoài ra, tác giả còn cung cấp thông tin về các phương tiện truyền thông mới và tầm quan trọng của truyền thông di động trong truyền thông đại chúng, sự hội tụ kinh tế của ngành công nghiệp trực tuyến và phương tiện di động.

Song cách tổ chức quản lý truyền thông đại chúng trong một thế giới thay đổi hầu như không được đề cập đến, trong khi đó việc quản lý truyền thông đại chúng như một phương tiện báo chí đối ngoại rất cần thiết lại ít được chú trọng. Cuốn sách Những vấn đề cơ bản của báo chí [171] của hai nhà báo người Mỹ Bill Kovach và Tom Rosenstiel (2014) đã tập hợp nhiều ý kiến của các nhà báo có liên quan để đặt câu hỏi báo chí là gì, vai trò của báo chí trong đời sống xã hội như tôn trọng sự thật, trung thành với các ý kiến của người dân, phải là quyền lực mềm, là diễn đàn cho những chỉ trích công khai và thỏa hiệp, các vấn đề về tự do báo chí và là diễn đàn của công chúng. Đưa ra nhiều nguyên tắc như những luận điểm về vai trò của báo chí trong đời sống xã hội nhưng các tác giả hầu như không nhắc đến vấn đề phải quản lý báo chí như thế nào và ai sẽ đứng ra quản lý. Cuốn sách Vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý báo chí đối ngoại của tác giả Jørgen Skrubbeltrang (2015) cho rằng, trong xã hội hiện đại đội ngũ cán bộ quản lý báo chí đối ngoại đóng vai trò thiết yếu trong việc thẩm định cũng như đưa ra những đánh giá để đi đến quyết định cho phép xuất bản hay từ chối.

Người viết bài rất đa dạng, họ đến từ nhiều nền văn hóa nên có thể không hình dung hết những chuẩn mực báo chí mà một nước đặt ra, do đó đội ngũ cán bộ quản lý báo chí trở thành một lực lượng tin cậy cho các xuất bản đến với độc giả ở các nền văn hóa khác nhau [178]. Như vậy, có thể thấy những nghiên cứu về vấn đề quản lý báo chí ở nước ngoài đã được đề cập đến nhưng chưa nhiều. Mỗi nước có cách thức khác nhau, song tập trung chủ yếu vào vấn đề tự do báo chí và phát triển báo chí theo định hướng thông tin nhanh, kịp thời, tôn trọng sự thật và là một diễn đàn không thể thiếu trong đời sống xã hội. Xu hướng nghiên cứu chính hiện nay về quản lý báo chí nói chung ở nước ngoài tương đối đa dạng, nhiều loại hình báo chí nhưng thường gắn với hoạt động thương 17 mại, nhất là báo điện tử.

Tuy nhiên, những nghiên cứu về quản lý báo chí đối ngoại hầu như chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống. Trong khi đó quản lý báo chí đối ngoại cần được quan tâm và được thể chế hóa bằng các văn bản quy phạm pháp luật rõ ràng, chi tiết để tạo điều kiện cho quản lý báo chí đối ngoại phát triển. Tình hình nghiên cứu trong nước về quản lý báo chí và quản lý báo chí đối ngoại Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, mạng xã hội làm cho báo chí trong nước xuất hiện một số xu hướng nghiên cứu mới: Thứ nhất, những công trình nghiên cứu về quản lý báo chí Ở Việt Nam, báo chí đang có sự phát triển mạnh mẽ cả về loại hình và cách tổ chức nội dung. Chính vì vậy, công tác quản lý báo chí cũng được nghiên cứu khá đa dạng, với nhiều công trình khác nhau, có thể chỉ ra các công trình nghiên cứu có liên quan đến quản lý báo chí gồm: Tác giả Trần Bá Dung (2001) có bài viết Các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về báo chí trong thời kỳ đổi mới introng cuốn sách Báo chí những điểm nhìn từ thực tiễn [53].

Tác giả đã đưa ra đánh giá báo chí cách mạng ngày càng lớn về quy mô, khoa học hơn về tính chất, ngày càng khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng trong đời sống xã hội, được xã hội đón nhận. Trên thực tế, với sự phát triển mạnh mẽ của các loại hình thông tin, báo chí như hiện nay tác giả cho rằng cần cơ cơ chế, chính sách quản lý báo chí để báo chí cách mạng luôn giữ vững lập trường, tôn chỉ mục đích và gắn bó chặt chẽ với sự phát triển của đất nước. Cuốn sách Tăng cường lãnh đạo, quản lý tạo điều kiện để báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ, vững chắc trong thời gian tới [16] do Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn (2007) cho rằng, cần tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp trong quản lý báo chí trong thời gian tới để phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiêp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đề tài cấp Bộ Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất các giải pháp quản lý Nhà nước về báo chí ở nước ta trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế do Vũ Thanh Sơn (2008) làm chủ nhiệm [133]; bài báo Quản lý nhà nước về báo mạng điện tử ở Việt Nam hiện nay của tác giả Trịnh Xuân Thắng (2013) đăng trên trên tạp chí Thông tin đối ngoại [140]; bài báo Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với báo chí của tác giả Nguyễn Vũ Tiến (2002) đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị [153] 18 các tác giả thống nhất cho rằng, báo chí nước ta hiện nay rất đa dạng về chủng loại, nội dung thông tin rất phong phú, chính vì vậy cần có nhiều biện pháp linh hoạt để quản lý báo chí trong tình hình mới, nhất là tính cập nhật, nhạy bén của báo điện tử cần phải kiểm soát chặt chẽ về thông tin, cần có sự quản lý thường xuyên, sát sao của các cơ quan chức năng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ