CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN VỐN ỨNG TỪ QUỸ PHÁT TRIỂN ĐẤT 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý vốn ứng từ Quỹ phát triển đất 1.1 Một số khái niệm a. Khái niệm về quản lý Với trình độ phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ càng cao, quy mô sản xuất càng lớn thì phân công chuyên môn hoá lao động càng sâu. Trong điều kiện đó muốn đạt được hiệu quả cao thì càng đòi hỏi phải có một loại hoạt động đặc biệt có nhiệm vụ tạo lập và kết nối một cách khôn khéo các hoạt động đa dạng phức tạp của tổ chức, xã hội thành một hoạt động có hiệp tác thống nhất ăn khớp, đồng bộ, nhịp nhàng. Hoạt động nói trên được gọi là quản lý.
Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, đã có nhiều học giả trong và ngoài nước đưa ra giải thích không giống nhau về quản lý. Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý, đặc biệt là từ thế kỷ XXI các quan điểm về quản lý lại càng phong phú. Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau: Theo Fayel, “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát ấy [dt 8; tr.
Theo Perter F Druker, “Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả, quyền uy duy nhất của nó là thành tích” [dt 8; tr. Dalark, “Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc và quản lý công việc và nhân công” [dt 8; tr.
Có thể có rất nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa quản lý, trên đây nghiên cứu mới chỉ đưa ra một vài ý kiến đại diện trên cơ sở phân tích, tổng hợp những quan điểm không giống nhau. Những quan điểm này tuy đã rất rõ ràng, đúng đắn nhưng vẫn chưa đầy đủ. Chúng chỉ chú trọng đến quản lý như là một hiện tượng chứ chưa làm bộc lộ rõ bản chất của nó. 13 Quản lý thực chất là một hành vi, đã là hành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động.
Tiếp theo cần có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì? Cuối cùng cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Có được ba yếu tố trên nghĩa là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý. Đồng thời bất cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải là hoạt động độc lập, nó cần được tiến hành trong môi trường, điều kiện nhất định nào đó. Các yếu tố cấu thành nên hoạt động quản lý: - Chủ thể quản lý, trả lời cho câu hỏi: Do ai quản lý? - Khách thể quản lý, trả lời cho câu hỏi: Quản lý cái gì? - Mục đích quản lý, trả lời cho câu hỏi: Quản lý vì cái gì? - Môi trường và điều kiện tổ chức, trả lời cho câu hỏi: Quản lý trong hoàn cảnh nào? Công tác Quản lý về cơ bản đó là việc tác động đến con người để họ thực hiện, hoàn thành những công việc được giao, để họ làm những việc có lợi, có ích. Điều đó đòi hỏi ta phải hiểu rõ và sâu sắc về con người như: những nhu cầu, các yếu tố năng lực, các quy luật tham gia hoạt động (tích cực, tiêu cực).
Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết, phối hợp các hoạt động của cấp dưới, của những người dưới quyền. Biểu hiện cụ thể qua việc lập kế hoạch hoạt động, đảm bảo tổ chức, điều phối, kiểm tra, kiểm soát. Từ đó hướng được sự chú ý của con người vào một hoạt động nào đó, điều tiết được nguồn nhân lực, phối hợp được các hoạt động bộ phận. Quản lý là sự thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động đông người được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao bền lâu và không ngừng phát triển.
Tóm lại, quản lý là việc tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thu được nhưng diễn biến, thay đổi tích cực. Khái niệm về quỹ phát triển đất và quản lý Quỹ phát triển đất Theo Quyết định 40/2010/QĐ-TTg ngày 12 tháng 05 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế mẫu về quản lý, sử dụng Quỹ phát triển đất, khái niệm về Quỹ phát triển đất và quản lý Quỹ phát triển đất được hiểu như sau: 14 - Khái niệm quỹ phát triển đất Quỹ phát triển đất của thành phố là tổ chức tài chính Nhà nước, trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố do Ủy ban nhân dân thành phố quyết định thành lập. Quỹ có tư cách pháp nhân, hoạt động hạch toán độc lập, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại KBNN và các tổ chức tín dụng để hoạt động theo quy định của pháp luật. Quỹ có chức năng nhận vốn từ nguồn NSNN (nguồn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền thu từ đấu giá quyền sử dụng đất) và huy động các nguồn khác theo quy định để ứng vốn và chi hỗ trợ trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; tạo quỹ đất và phát triển quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
- Khái niệm về quản lý Quỹ phát triển đất Quản lý Quỹ phát triển đất là việc quản lý, sử dụng nguồn vốn của Quỹ, điều kiện ứng vốn, thẩm quyền quyết định ứng vốn và trình tự thủ tục ứng vốn, chi hỗ trợ, hoàn trả vốn ứng và các khoản chi hỗ trợ thực hiện theo Quy chế, Điều lệ của Quỹ và quy định của Pháp luật hiện hành. Quản lý Quỹ phát triển đất là Hội đồng quản lý Quỹ, Ban kiểm soát Quỹ, cơ quan điều hành nghiệp vụ quỹ, trong đó Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ sẽ do phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đảm nhiệm.2 Yêu cầu đặt ra trong quản lý vốn ứng Công tác giải ngân vốn ứng phải cần phải tuân theo những nguyên tắc nhất định như sau: - Việc giải ngân vốn ứng phải dựa trên cơ sở thực hiện nghiêm chỉnh trình tự dự án đầu tư và xây dựng, nguyên tắc này đảm bảo tính kế hoạch và hiệu quả của vốn ứng. - Phải đảm bảo đúng mục đích, đúng kế hoạch. Tức là ứng vốn đúng đối tượng, đúng với Điều lệ, quy định, ứng theo Kế hoạch đã được phê duyệt.
Việc giải ngân đó phải đảm bảo đúng tiến độ đề ra. - Vốn ứng phải được thực hiện theo đúng mức độ thực tế hoàn thành kế hoạch trong phạm vi giá trị dự toán được duyệt. Điều này nhằm đảm bảo việc giải ngân đúng mục đích, đúng giá trị của công trình. - Việc giải ngân vốn ứng phải thực hiện việc kiểm tra kiểm soát bằng đồng tiền đối với các hoạt động sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả.
Thực hiện 15 nguyên tắc này nhằm thúc đẩy việc sử dụng vốn hợp lý, đúng mục đích, hoàn thành kế hoạch và đưa dự án vào sử dụng. Điều đó có nghĩa rằng, công tác quản lý là vô cùng quan trọng trong tất cả các lĩnh vực.3 Nhiệm vụ của Quỹ phát triển đất Quỹ phát triển đất có nhiệm vụ tiếp nhận nguồn vốn theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được thay thế bởi Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai. Từ nguồn cung ứng trên Quỹ tiến hành ứng vốn cho các tổ chức để thực hiện các nhiệm vụ được giao, sau đó thu hồi vốn đã ứng theo quy định: - Ứng vốn cho các tổ chức phát triển quỹ đất để tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; tạo quỹ đất và phát triển quỹ đất để đấu giá quyền sử dụng đất phục vụ kinh tế - xã hội của địa phương. - Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu vực đã có quy hoạch phải thu hồi đất mà người sử dụng đất trong khu vực đã có quy hoạch phải thu hồi đất mà người sử dụng đất có nhu cầu chuyển nhượng trước khi Nhà nước thu hồi đất.
Từ đó tổ chức phát triển các khu tái định cư phục vụ việc thu hồi đất thực hiện các dự án, đồng thời tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên quỹ đất đã được giao quản lý để đấu giá. - Ứng vốn cho các tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện việc bồi thường, hỗ trơ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. - Ứng vốn cho các tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện đầu tư tạo quỹ đất, quỹ nhà tái định cư theo quy hoạch; thực hiện thu hồi vốn đã ứng. Ngoài ra Quỹ thực hiện ứng vốn từ NSNN để chi hỗ trợ thực hiện các nhiệm vụ quy định sau: - Ứng vốn từ NSNN trong việc chi hỗ trợ thực hiện các đề án đào tạo nghề, chuyển đổi nghề nghiệp cho các đối tượng bị Nhà nước thu hồi đất.
- Ứng vốn từ NSNN để chi hỗ trợ khoản chênh lệch cho hộ gia đình, cá nhân vào khu tái định cư trong trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận đất ở, nhà ở tái 16 định cư mà số tiền được bồi thường, hỗ trợ nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu. - Ứng vốn từ NSNN để chi hỗ trợ xây dựng khu tái định cư; hỗ trợ xây dựng các công trình hạ tầng tại các địa phương có đất bị thu hồi. Nếu cần đình chỉ, thu hồi vốn đã ứng, kinh phí đã hỗ trợ khi phát hiện các tổ chức, đơn vị vi phạm quy định về sử dụng vốn ứng, kinh phí hỗ trợ thì phải trình Chủ tịch UBND thành phố quyết định.