CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CẢNG HÀNG KHÔNG 1. Nguồn nhân lực tại cảng hàng không 1. Khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực tại cảng hàng không 1. Khái niệm nguồn nhân lực Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, con người được coi là một phương tiện hữu hiệu cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững, là một nguồn vốn đặc biệt cho sự phát triển bên cạnh các loại vốn vật chất khác.
Liên Hợp quốc cho rằng nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước [10, tr. Theo hướng tiếp cận này việc nghiên cứu nguồn nhân lực chủ yếu hướng về chất lượng và vai trò của nó trong nền kinh tế xã hội. Theo Tổ chức Lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Như vậy, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: thứ nhất, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội; thứ hai, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân và tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động [12].
Hay theo Nguyễn Ngọc Quân, nguồn nhân lực trong một tổ chức còn bao gồm tất cả những phẩm chất tốt đẹp, kinh nghiệm sống, óc sáng tạo và nhiệt huyết của mọi người lao động từ Giám đốc cho đến tất cả các công nhân [21, tr. Từ những đánh giá ở trên, nguồn nhân lực của một tổ chức có thể được xem xét và đánh giá một cách toàn diện cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu 10 của toàn bộ lực lượng lao động hiện đang làm việc. Về số lượng, thể hiện quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Về chất lượng, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua thể lực, trí lực, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động và phong cách làm việc.
Nguồn nhân lực được hình thành trên cơ sở từ mỗi cá nhân với vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những yêu cầu nhất định để đạt được mục tiêu chung. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác chính ở bản chất con người. Nguồn nhân lực tại cảng hàng không Từ việc nghiên cứu các khái niệm nguồn nhân lực và tiếp cận dưới góc độ một tổ chức, doanh nghiệp. Cũng có thể xem xét nguồn nhân lực tại cảng hàng không theo số lượng, chất lượng và cơ cấu của toàn bộ lực lượng lao động hiện đang làm việc để đảm bảo an toàn hoạt động khai thác và vận hành cảng hàng không.
Nguồn nhân lực đó được hình thành từ nhiều nhóm loại nhân viên cùng tham gia, liên kết chặt chẽ với nhau có thể đáp ứng các điều kiện theo yêu cầu của Nhà nước và các định chế quốc tế ICAO, IATA. Như vậy, có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực tại cảng hàng không là tổng hợp những yếu tố về năng lực thể chất và tinh thần hiện hữu trong toàn bộ lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp đáp ứng đủ yêu cầu, điều kiện, đang làm việc và tham gia một cách hiệu quả vào quá trình quản lý khai thác cảng hàng không và cung ứng các dịch vụ mặt đất, an ninh an toàn cho các chuyến bay đến và đi tại cảng hàng không, nhằm đạt được mục tiêu, nhiệm vụ chính trị cơ bản của ngành là an toàn, hiệu quả, nhanh chóng và thuận tiện. Đặc điểm nguồn nhân lực tại cảng hàng không Với tư cách là chủ thể khai thác cảng hàng không và cung ứng dịch vụ PVMĐ, chuyển tải phần lớn sự bảo đảm an toàn và chất lượng dịch vụ đến khách hàng, vì thế nhân lực cảng hàng không phải có những đặc điểm riêng về phẩm chất, năng lực và hành vi phù hợp với tính chất nghề nghiệp. 11 Thứ nhất, an toàn hàng không quyết định sự tồn tại phát triển của ngành, vì vậy đòi hỏi nhân viên tại cảng hàng không phải có tính kỷ luật cao, yêu cầu tuân thủ nghiêm ngặt quy trình phục vụ chuyến bay, phối hợp với nhau một cách đồng bộ, nhịp nhàng để mang lại những sản phẩm dịch vụ hoàn chỉnh và độ an toàn cao đến với khách hàng.
Thứ hai, an ninh hàng không là một bộ phận của an ninh chính trị quốc gia và luôn là mục tiêu nhắm đến của các lực lượng phản động, đối tượng khủng bố. Vì vậy, nhân lực của ngành hàng không nói chung và lực lượng kiểm soát an ninh hàng không phải có ý thức chính trị cao, đáp ứng yêu cầu về lý lịch nhân thân và quy định khắt khe về kiểm soát an ninh nội bộ. Thứ ba, phải có trình độ ngoại ngữ nhất định và chuyên môn hóa cao phù hợp với từng nhóm chức danh công việc, phải đáp ứng các yêu cầu về đào tạo cơ bản, huấn luyện định kỳ, phục hồi… và trải qua những kỳ thi cấp giấy phép năng định, hành nghề có thời hạn theo quy định của Cục Hàng không Việt Nam, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Thứ tư, nhân lực phải đủ về số lượng, vị trí; hợp lý về cơ cấu, đa dạng về chuyên môn, nghiệp vụ mới đáp ứng được yêu cầu khai thác, PVMĐ và đảm bảo hiệu quả, tính chính xác về thời gian của vận tải hàng không.
Thứ năm, PVMĐ là một loại hình dịch vụ đặc thù, môi trường làm việc khắc nghiệt nhưng lại khá hấp dẫn, thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với nhiều đối tượng khách hàng; áp lực công việc cao do thời gian và cường độ làm việc luôn thay đổi với biên độ lớn, đòi hỏi nguồn nhân lực không những cần có ngoại hình và sức khỏe tốt, còn phải có kỹ năng giao tiếp, tác phong làm việc chuyên nghiệp, tâm lý ổn định và đặc biệt phải có ý thức và tâm huyết với nghề mới có thể đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ lâu dài của của công việc. Vai trò nguồn nhân lực tại cảng hàng không Thứ nhất, nguồn nhân lực tại cảng hàng không có vai trò then chốt trong thúc đẩy hiệu quả kinh tế và nâng cao năng lực khai thác của cả hệ 12 thống cảng hàng không. Với đặc điểm của một ngành kinh tế kỹ thuật, thường xuyên phải tiếp cận và khai thác sử dụng nhiều loại trang bị, phương tiện hiện đại, nếu chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao sẽ phát huy tối đa tính năng của các hệ thống trang bị, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất tăng khả năng sinh lợi hàm lượng vốn vật chất. Hàm lượng vốn vật chất tăng lên sẽ quay trở lại tạo nhiều điều kiện thuận lợi làm tăng hiệu quả đầu tư vào nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, quyết định hiệu quả tăng trưởng bền vững của một cảng hàng không Thứ hai, nguồn nhân lực tại cảng hàng không có vai trò trung tâm trong quá trình chuyển dịch, tái cơ cấu ACV và cơ cấu lao động theo hướng chuyên môn hóa, hiện đại hóa.
Thực hiện chủ trương của ACV tiếp tục đẩy mạnh sắp xếp cơ cấu lại tổ chức, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động trên nền tảng công nghệ hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, quản trị theo chuẩn mực quốc tế, nhằm huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp; bảo toàn, phát triển vốn đầu tư của chủ sở hữu, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giám sát, kiểm tra, kiểm soát trong mọi hoạt động. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực quản trị, phẩm chất đạo đức để kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp [15]. Thứ ba, nguồn nhân lực tại cảng hàng không có vai trò là đòn bẩy của cả hệ thống cảng hàng không cả nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Với hệ thống 21 cảng hàng không và hiện đang được nhà nước tin tưởng giao đầu tư Cảng HKQT Long Thành, tiếp tục nâng cấp hạ tầng, trang bị tại các cảng hàng không nội địa để đảm bảo năng lực và chất lượng phục vụ bay quốc tế.
Vì vậy, đòi hỏi ACV phải sở hữu một nguồn nhân lực có trình độ, kỹ năng, có tri thức khoa học, công nghệ, có phẩm chất đạo đức và nhân cách, là đòn bẩy cho các nguồn lực khác để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế của ACV hiện nay. Quản lý nguồn nhân lực tại cảng hàng không 1. Khái niệm quản lý nguồn nhân lực tại cảng hàng không Với quan những điểm đã nghiên cứu ở trên, khái niệm quản lý nguồn nhân lực tại cảng hàng không cũng được tiếp cận theo các hướng sau: Quản lý nguồn nhân lực tại cảng hàng không là nâng cao về số lượng và chất lượng, hiệu quả làm việc của tất cả các đối tượng NLĐ đang phục vụ ở mọi vị trí công việc trong dây chuyền quản lý khai thác và SXKD. Quản lý nguồn nhân lực tại cảng hàng không không những quản lý về hành chính mà cả về tư tưởng và tâm lý nhân sự.
Khợi dậy, đánh thức những tiềm năng tích cực ở mỗi NLĐ, phát huy tối đa hiệu quả nguồn nhân lực. Quản lý nguồn nhân lực tại cảng hàng không còn là thúc đẩy nhằm tiệm cận đến mục tiêu an toàn - hiệu quả - chất lượng, đồng thời cố gắng đạt được các mục tiêu xã hội và lợi ích cá nhân của NLĐ một cách trọn vẹn nhất. Như vậy, quản lý nguồn nhân lực tại cảng hàng không là hệ thống các hình thức, phương pháp, các chính sách, hoạt động và biện pháp để thu hút và đáp ứng đầy đủ về số lượng nguồn nhân lực, điều chỉnh hợp lý cơ cấu nguồn nhân lực; duy trì, hoàn thiện và phát triển, nâng cao chất lượng toàn diện cho nguồn nhân lực nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cảng hàng không và NLĐ, đảm bảo yêu cầu nhiệm vụ quản lý khai thác cảng hàng không, nâng cao chất lượng cung ứng các dịch vụ mặt đất, dịch vụ an ninh an toàn cho các chuyến bay và đảm bảo hiệu quả SXKD của cảng hàng không được đặt ra trong từng giai đoạn nhất định.