Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH XÃ 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách xã 1.1 Một số vấn đề cơ bản về ngân sách nhà nước và ngân sách xã 1.1 Ngân sách nhà nước a. Khái niệm Ngân sách nhà nước Sự ra đời của NSNN là một tất yếu khách quan, gắn liền với tồn tại và phát triển của Nhà nước. Có rất nhiều quan điểm khác nhau được đưa ra về khái niệm NSNN: Theo Dương Đăng Chinh (2009) thì: “Ngân sách nhà nước phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định”. Tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI ngày 16 tháng 12 năm 2002 đã thông qua Luật Ngân sách (2002), trong đó đưa ra khái niệm về NSNN như sau: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Đến kỳ họp thứ chín, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII ngày 25 tháng 06 năm 2015 tiếp tục thông qua Luật NSNN (2015) có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017, cho rằng: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”. Đây có thể coi là khái niệm cơ bản và đầy đủ nhất trong các khái niệm về NSNN. Khái niệm này đã thể hiện được khái quát nội dung và mục đích của NSNN. Hệ thống NSNN và phân cấp quản lý NSNN * Hệ thống NSNN Hệ thống NSNN có thể hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Theo Điều 06 Luật NSNN (2015) thì hệ thống NSNN gồm có: “1. Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phương.” Theo quy định tại Điều 02 của Luật tổ chức chính quyền địa phương (2015) thì các đơn vị hành chính của nước CHXHCN Việt Nam gồm có: “1. Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); 2.
Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện); 3. Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã); 4. Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.” Từ các căn cứ trên có thể thấy, NSĐP sẽ bao gồm các cấp ngân sách sau: - Thứ nhất, ngân sách tỉnh: bao gồm ngân sách các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. - Thứ hai, ngân sách huyện: bao gồm ngân sách các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
- Thứ ba, NSX: bao gồm ngân sách các xã, phường, thị trấn. Có thể khái quát hệ thống NSNN qua hình dưới đây: NSNN NSTƯ NSĐP Ngân sách Ngân sách Ngân sách tỉnh, thành phố huyện, thành xã, phường, thị trực thuộc Trung phố, thị xã trực trấn ương thuộc tỉnh Sơ đồ 1.1: Hệ thống Ngân sách Nhà nước tại Việt Nam (Nguồn: Tác giả tự tổng hợp) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Hình trên cho thấy, NSX là cấp ngân sách cuối cùng trong hệ thống NSNN và được quản lý, sử dụng theo các quy định hiện hành của pháp luật. * Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước Để tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp chính quyền chủ động quản lý, sử dụng NSNN, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của chính quyền các cấp trong việc sử dụng, quản lý NSNN, cần thiết phải tiến hành phân cấp quản lý NSNN. Thực chất phân cấp quản lý NSNN là việc phân định rõ ranh giới quyền lực về quản lý NSNN giữa các cấp chính quyền.
Theo quy định tại Điều 09 Luật NSNN (2015), nguyên tắc phân cấp quản lý nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa các cấp ngân sách được quy định như sau: “1. Ngân sách trung ương, ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể. Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chi quốc gia, hỗ trợ địa phương chưa cân đối được ngân sách và hỗ trợ các địa phương theo quy định tại khoản 3 Điều 40 của Luật này. Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động thực hiện những nhiệm vụ chi được giao.
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn. Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp; việc quyết định đầu tư các chương trình, dự án sử dụng vốn ngân sách phải bảo đảm trong phạm vi ngân sách theo phân cấp. Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước thuộc ngân sách cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước thuộc ngân sách cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình thì phải phân bổ và giao dự toán cho cơ quan cấp dưới được ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ chi đó. Cơ quan nhận kinh phí ủy quyền phải quyết toán với cơ quan ủy quyền khoản kinh phí này.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách và số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới trên cơ sở bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Trong thời kỳ ổn định ngân sách: a) Không thay đổi tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách; b) Hằng năm, căn cứ khả năng cân đối của ngân sách cấp trên, cơ quan có thẩm quyền quyết định tăng thêm số bổ sung cân đối ngân sách từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới so với năm đầu thời kỳ ổn định; c) Số bổ sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được xác định theo nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ ngân sách và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách; khả năng của ngân sách cấp trên và khả năng cân đối ngân sách của từng địa phương cấp dưới; d) Các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu hằng năm mà ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp để tăng chi thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đối với số tăng thu so với dự toán thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 59 của Luật này.
Trường hợp đặc biệt có phát sinh nguồn thu từ dự án mới đi vào hoạt động trong thời kỳ ổn định ngân sách làm ngân sách địa phương tăng thu lớn thì số tăng thu phải nộp về ngân sách cấp trên. Chính phủ trình Quốc hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định thu về ngân sách cấp trên số tăng thu này và thực hiện bổ sung có mục tiêu một phần cho ngân sách cấp dưới theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 40 của Luật này để hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng ở địa phương theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; đ) Trường hợp ngân sách địa phương hụt thu so với dự toán do nguyên nhân khách quan thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật này. Sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dần tỷ lệ bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên so với tổng chi ngân sách địa phương hoặc tăng tỷ lệ phần LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 trăm (%) nộp về ngân sách cấp trên đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách để tăng nguồn lực cho ngân sách cấp trên thực hiện các nhiệm vụ chi quốc gia và phát triển đồng đều giữa các địa phương. Không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác và không được dùng ngân sách của địa phương này để chi cho nhiệm vụ của địa phương khác, trừ các trường hợp sau: a) Ngân sách cấp dưới hỗ trợ cho các đơn vị thuộc cấp trên quản lý đóng trên địa bàn trong trường hợp cần khẩn trương huy động lực lượng cấp trên khi xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh và các trường hợp cấp thiết khác để bảo đảm ổn định tình hình kinh tế - xã hội, an ninh và trật tự, an toàn xã hội của địa phương; b) Các đơn vị cấp trên quản lý đóng trên địa bàn khi thực hiện chức năng của mình, kết hợp thực hiện một số nhiệm vụ theo yêu cầu của cấp dưới; c) Sử dụng dự phòng ngân sách địa phương để hỗ trợ các địa phương khác khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa nghiêm trọng.
Trường hợp thực hiện điều ước quốc tế dẫn đến giảm nguồn thu của ngân sách trung ương, Chính phủ trình Quốc hội điều chỉnh việc phân chia nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương để bảo đảm vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương” (Quốc hội, 2015). Vai trò của NSNN Vai trò tất yếu của ngân sách nhà nước ở mọi thời đại và trong mọi mô hình kinh tế, là công cụ quan trọng của ngân sách nhà nước trong cơ chế thị trường. Thứ nhất, huy động các nguồn lực tài chính. Vai trò này được xác định trên cơ sở bản chất kinh tế của ngân sách nhà nước.
Sự hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải có các nguồn lực tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định.