Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý thu ngân sách nhà nước cấp huyện Chương 2: Thực trạng quản lý thu NSNN trên địa bàn huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên giai đoạn 2012 – 2016 Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên đến năm 2022 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN 1. Tổng quan về quản lý thu ngân sách nhà nƣớc cấp huyện 1. Thu ngân sách nhà nước và thu ngân sách nhà nước cấp huyện 1. Khái niệm thu ngân sách nhà nước Để thực hiện chức năng của mình, nhà nƣớc cần có một khoản thu nhất định để trang trải các khoản chi phí đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển của bộ máy, các hoạt động quản lý xã hội và đảm nhận các khoản chi phí phục vụ cho các mục đích công cộng khác.
Nhà nƣớc tập trung một phần nguồn lực xã hội vào tay mình bằng cách phân chia các nguồn lực của xã hội giữa nhà nƣớc với các chủ thể khác trong nền kinh tế dựa trên quyền lực chính trị của nhà nƣớc. Sự phân chia đó là tất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nƣớc, cũng nhƣ việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nƣớc. Thu ngân sách nhà nƣớc bao gồm: Toàn bộ các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; Toàn bộ các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do cơ quan nhà nƣớc thực hiện, trƣờng hợp đƣợc khoán chi phí hoạt động thì đƣợc khấu trừ; các khoản phí thu từ các hoạt động dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nƣớc thực hiện nộp ngân sách nhà nƣớc theo quy định của pháp luật; Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nƣớc, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nƣớc cho Chính phủ Việt Nam và chính quyền địa phƣơng; Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật [25]. Có thể thấy, “Thu ngân sách nhà nước là việc nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung m t phần các nguồn tài chính quốc gia để hình thành quỹ ngân sách nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của nhà nước” [12, tr.
7 Xét về mặt hình thức, thu NSNN là một hoạt động, là quá trình của nhiều hành vi, hành động của Nhà nƣớc. Xét về nội dung, thu NSNN là quá trình nhà nƣớc sử dụng các quyền lực có đƣợc của mình để động viên, phân phối một bộ phận của cải của xã hội dƣới dạng tiền tệ về tay nhà nƣớc nhằm hình thành nên quỹ NSNN. Để có nguồn lực tài chính cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nƣớc phải sử dụng quyền lực của mình, mà trƣớc hết là quyền lực chính trị để động viên một bộ phận của cải xã hội hình thành nên các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nƣớc thông qua hệ thống luật pháp do nhà nƣớc ban hành. Đặc điểm thu ngân sách nhà nước Thu NSNN có m t số đặc điểm chủ yếu sau: M t là, phần lớn các khoản thu NSNN mang tính pháp lý và bắt buộc.
Thu NSNN là tiền đề cần thiết để duy trì quyền lực chính trị và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc. Mọi khoản thu của nhà nƣớc đều đƣợc thể chế hóa bởi các chính sách, chế độ và pháp luật của nhà nƣớc. Hai là, mức độ và cơ cấu thu NSNN của mỗi quốc gia về cơ bản phản ánh mức độ, cơ cấu của nền kinh tế. Quy mô thu NSNN tùy thuộc vào quy mô và tốc độ tăng trƣởng của nền kinh tế.
Cơ cấu thu NSNN phản ánh cơ cấu của nền kinh tế của mỗi quốc gia. Ba là, các khoản thu NSNN luôn chứa đựng các mối quan hệ kinh tế, chính trị. Thu NSNN đƣợc xác định trên cơ sở luật định, gắn liền với quyền lực của nhà nƣớc mà chủ yếu là quyền lực chính trị. Bốn là, đại bộ phận các khoản thu NSNN không đƣợc hoàn trả trực tiếp.
Nguồn tài chính chủ yếu của thu NSNN là thu nhập của các thể nhân và pháp nhân đƣợc chuyển giao bắt buộc cho nhà nƣớc dƣới nhiều hình thức nhƣng chủ yếu là thuế, phí, lệ phí. Nhà nƣớc hoàn trả gián tiếp cho các đối tƣợng nộp thuế thông qua việc cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cộng và các lợi ích xã hội. Cơ cấu thu ngân sách nhà nước Để hình thành quỹ tiền tệ chung đảm bảo cho hiệu quả hoạt động của mình, 8 nhà nƣớc phải dùng quyền lực chính trị để tập trung một phần nguồn lực tài chính xã hội. Những kênh cung cấp số thu cho NSNN thông qua quá trình tác động vào các đối tƣợng thu để hình thành quỹ tiền tệ quốc gia chính là những nguồn thu của NSNN.
NSNN có rất nhiều nguồn thu. Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, có thể phân thu NSNN nhƣ sau: Căn cứ vào biểu hiện của nguồn thu, ta có thể chia thành nguồn thu trực tiếp và nguồn thu tiềm năng. - Nguồn thu trực tiếp là nguồn thu đã thể hiện bằng tiền, chỉ cần một số tác động nào đó sẽ thu đƣợc một phần về cho NSNN. Ở những biểu hiện cụ thể, thì đó là tiền lƣơng, doanh thu, lợi nhuận, thu nhập doanh nghiệp (TNDN), vốn, thu nhập cá nhân (TNCN).
Ở tầm vĩ mô thì nguồn thu thể hiện qua tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP). - Nguồn thu tiềm năng là các nguồn thu chƣa thể hiện bằng tiền, nhƣng có khả năng thành tiền trong một thời gian gần nhƣ: đất đai, khoáng sản,… Nguồn thu trực tiếp cho phép xác định thu NSNN trong hiện tại, còn nguồn thu tiềm năng cho phép xác định khả năng thu NSNN trong tƣơng lai. Căn cứ vào mục đích sử dụng các nguồn thu và tính toán mức b i chi ngân sách, chúng ta có thể phân chia thành nguồn thu trong cân đối và nguồn thu ngoài cân đối ngân sách. - Thu trong cân đối ngân sách là các khoản thu đƣợc đƣa vào công thức xác định mức bội chi ngân sách.
Đây chính là nội dung kinh tế của bội chi ngân sách. - Thu ngoài cân đối ngân sách đƣợc hiểu bao gồm các khoản thu vào quỹ ngân sách mà khoản thu đó không kèm theo, không phát sinh nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp. Ngoài ra, căn cứ vào nơi phát sinh nguồn thu ngƣời ta chia ra: Nguồn thu trong nƣớc và nguồn thu ngoài nƣớc, nguồn thu theo lĩnh vực (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ …), nguồn thu theo thành phần kinh tế, …. 9 Theo quy định cụ thể của Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 Quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành Luật Ngân sách và Thông tƣ số 59/2003/TT- BTC ngày 23/6/2003 về hƣớng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nƣớc thì thu NSNN không bao gồm các khoản mang tính chất hoàn trả nhƣ vay nợ và viện trợ có hoàn lại.
- Thuế: “Thuế là m t hình thức đ ng viên bắt bu c của Nhà nước theo luật định, thu c phạm trù phân phối, nhằm tập trung m t b phận thu nhập của các thể nhân và pháp nhân vào ngân sách nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và phục vụ cho lợi ích công c ng” [16, tr. Thuế là một biện pháp tài chính bắt buộc của nhà nƣớc nhằm động viên một bộ phận từ thu nhập từ lao động, của cải, vốn, từ việc chi tiêu hàng hóa dịch vụ và từ việc lƣu giữ, chuyển dịch tài sản của các thể nhân và pháp nhân nhằm trang trải các nhu cầu chi tiêu của nhà nƣớc. Việc thu thuế bao giờ cũng đƣợc thể chế hóa bằng hệ thống pháp luật. Trong các nội dung thu NSNN thì nguồn thu từ thuế chiếm chủ yếu và có tính bền vững cao do đƣợc trích từ một phần giá trị của hoạt động sản xuất kinh doanh, đó là công cụ hữu hiệu của nhà nƣớc để điều tiết hoạt động của nền kinh tế.
- Phí và lệ phí: “Phí là khoản tiền mà tổ chức, cá nhân phải trả nhằm cơ bản bù đắp chi phí và mang tính phục vụ khi được cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cung cấp dịch vụ công” [24,tr. “Lệ phí là khoản tiền được ấn định mà tổ chức, cá nhân phải n p khi được cơ quan nhà nước cung cấp dịch vụ công, phục vụ công việc quản lý nhà nước” [24, tr. Phí và lệ phí là khoản thu có tính chất bắt buộc, nhƣng mang tính chất đối giá, nghĩa là phí và lệ phí thực chất là khoản tiền mà mọi công dân trả cho nhà nƣớc khi họ hƣởng thụ các dịch vụ do nhà nƣớc cung cấp. So với thuế, tính pháp lý của 10 phí và lệ phí thấp hơn.
Phí gắn liền với vấn đề thu hồi một phần hay toàn bộ chi phí đầu tƣ đối với hàng hóa dịch vụ công cộng hữu hình. Lệ phí gắn liền với việc thụ hƣởng những lợi ích do việc cung cấp các dịch vụ hành chính, pháp lý cho các thể nhân và pháp nhân. Phí là các khoản thu do nhà nƣớc quy định để bù đắp một phần chi phí của NSNN đã dùng để đầu tƣ xây dựng, mua sắm, bảo dƣỡng và quản lý tài sản, tài nguyên hoặc chủ quyền quốc gia, tài trợ cho các tổ chức, cá nhân hoạt động sự nghiệp, hoạt động công cộng hoặc lợi ích công cộng không mang tính kinh doanh. - Các khoản thu từ hoạt đ ng kinh tế của nhà nước Các khoản thu này bao gồm, tiền thu hồi vốn của nhà nƣớc tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của nhà nƣớc (cả gốc cả lãi), thu nhập từ vốn góp của nhà nƣớc vào các cơ sở kinh tế, kể cả thu từ lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế của các tổ chức kinh tế có sự tham gia góp vốn của nhà nƣớc theo quy định của pháp luật.
- Thu từ hoạt đ ng sự nghiệp Các khoản thu từ bán sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp nhƣ thu tiền bán sản phẩm sản xuất thử của các đơn vị nghiên cứu khoa học, bán sách do trƣờng tự in ấn… hay là các khoản chênh lệch giữa thu và chi của các đơn vị sự nghiệp hoạt động có thu.