Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái quát về ngân sách nhà nước và ngân sách Nhà nước cấp huyện 1. Khái niệm ngân sách nhà nước Luật NSNN được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 2, thông qua ngày 16.2002, quy định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.5] Từ định nghĩa trên có thể hiểu NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi bằng tiền của nhà nước, phản ánh các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể kinh tế trong quá trình hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ lớn nhất của nhà nước để đảm bảo thực hiện các chức năng của nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một niên khoá tài chính. Đặc điểm ngân sách nhà nước Thứ nhất, ngân sách Nhà nước là một bộ phận tài chính đặc biệt, các thể chế trong NSNN được thiết lập dựa vào hệ thống pháp luật có liên quan (Hiến pháp, Luật thuế.), nhưng mặt khác, bản thân NSNN cũng là một Bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua hằng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế- xã hội có liên quan phải tuân thủ.
Thứ hai, ngân sách nhà nước là một bản dự toán thu- chi. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập ngân sách với những thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài chính tiếp theo. Thu, chi NSNN là điều kiện cần để thực hiện chính sách của Chính phủ. Chính phủ nào mà không được dự kiến trong NSNN thì sẽ không được thực hiện.
Với cơ sở đó, việc thông qua NSNN là một nhệm vụ chính trị quan trọng, nó biểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chính sách của Nhà nước. 7 Thứ ba, ngân sách Nhà nước là một công cụ quản lý, định ra danh mục các khoản thu mà Chính phủ chỉ được phép thu và danh mục các khoản chi trong khuôn khổ NSNN được Quốc hội phê duyệt. Điều này cho thấy, NSNN là công cụ giúp Quốc hội quản lý và kiểm soát các khoản tiêu dùng, thu nhập của Chính phủ trong mỗi năm tài khóa Thứ tư, các hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ NSNN gắn chặt với quyền lực kinh tế, chính trị của nhà nước và việc thực hiện các chức năng của nhà nước. Nói một cách cụ thể hơn, quyền lực của nhà nước và các chức năng của nó là những nhân tố quyết định mức thu, mức chi, nội dung và cơ cấu thu, chi của NSNN.
Thứ năm, các hoạt động thu, chi NSNN đều được tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. Đó là Luật thuế và các chế độ thu; chế độ, tiêu chuẩn định mức chi tiêu. do Nhà nước ban hành. Việc dựa trên cơ sở pháp luật để tổ chức các họat động thu, chi của NSNN là một yếu tố có tính khách quan, bắt nguồn từ phạm vi hoạt động của NSNN được tiến hành trên mọi lĩnh vực và có tác động tới mọi chủ thể kinh tế, xã hội.
Thứ sáu, nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN, quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước là từ giá trị sản phẩm thặng dư của xã hội và được hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến 1. Vai trò ngân sách nhà nước Vai trò tất yếu của NSNN ở mọi thời đại và trong mọi mô hình kinh tế là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội. Điều tiết trong kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động của những chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo đã hoạch định để hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Thông qua hoạt động chi ngân sách, nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng; cấp vốn hình thành các doanh nghiệp nhà nước nhằm chống 8 độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo.
Và trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí trong ngân sách cũng có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp. Thông qua hoạt động thu, bằng việc huy động nguồn tài chính thông qua thuế, NSNN bảo đảm thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế cung ứng các snả phẩm hàng hóa ra thị trường. Giải quyết các vấn đề xã hội “Chính sách thuế và chính sách chi ngân sách đã góp phần làm giảm bớt sự chênh lệch quá lớn về thu nhập và tiền lương giữa những người làm việc trong khu vực sản xuất kinh doanh, khu vực hành chính, sự nghiệp, quốc phòng - an ninh,; giữa những người sống ở thành thị, nông thôn, miền núi, hải đảo nhằm ổn định đời sống của các tầng lớp dân cư trong phạm vi cả nước.” Trợ giúp trực tiếp cho những người có thu nhập thấp hay có hoàn cảnh đặc biệt như chi về trợ cấp xã hội, trợ cấp gián tiếp dưới hình thức trợ giá cho các mặt hàng thiết yếu, các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, giải quyết việc làm, chống mù chữ, hỗ trợ đồng bào bão lụt. Góp phần ổn định thị trường, chống lạm phát, bình ổn giá cả thị trường hàng hóa Nhà nước chỉ điều tiết những mặt hàng quan trọng, mang tính chất chiến lược.
Cơ chế điều tiết thông qua trợ giá, điều chỉnh thuế suất, thuế xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia. Thị trường vốn sức lao động: thông qua phát hành trái phiếu và chi tiêu của chính phủ. Kiềm chế lạm phát: với chính sách tiền tệ thích hợp từ ngân hàng trung ương NSNN góp phần điều tiết thông qua chính sách thuế và chi tiêu của Chính phủ. Cơ cấu ngân sách nhà nước 1.
Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước thực chất là dựa trên quyền lực của nhà nước để giải quyết hài hòa lợi ích kinh tế giữa nhà nước với các cá nhân, chủ thể kinh tế. * Thu ngân sách nhà nước bao gồm : 9 Thứ nhất, các khoản thu thường xuyên có tính chất bắt buộc: Thuế, phí, lệ phí Thứ hai, các khoản thu không thường xuyên bao gồm thu từ kinh tế nhà nước; thu từ hoạt động sự nghiệp; tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước; các khoản thu khác. * Đặc điểm thu ngân sách nhà nước: Một là, phần lớn các khoản thu NSNN được xây dựng trên nền tảng nghĩa vụ công dân, điển hình là thuế, các khoản phí, lệ phí, thu khác thuộc NSNN Hai là, các khoản thu không mang tính bồi hoàn trực tiếp, Nhà nước sẽ dùng các khoản tiền thu được để tạo ra hàng hoá và dịch vụ công, các hàng hoá này sẽ được chính người dân hưởng thụ. Như vậy các khoản thu nhập công được chuyển lại cho người dân theo một cách gián tiếp và công cộng.
Ba là, thu NSNN được gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước. Nhà nước thu để thực hiện chi tiêu công chứ không phải thu để tìm kiếm lợi nhuận. Bốn là, thu NSNN gắn liền với các dịch vụ công như dịch vụ thu thuế, phí, lệ phí của các cơ quan được Nhà nước uỷ quyền. Chi ngân sách nhà nước Là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước.
Chi đầu tư phát triển là các khoản chi được tiêu dùng cho tương lai, khoản chi này làm tăng cơ sở vật chất, có khả năng tạo được nguồn thu, góp phần làm tăng trưởng kinh tế. Trong phạm vi cấp huyện thì chi đầu tư phát triển chủ yếu chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội. Chi thường xuyên là các khoản chi cho tiêu dùng hiện tại, gồm tiêu dùng cho cá nhân, tiêu dùng của các tổ chức hành chính nhà nước và sự nghiệp. có thời hạn tác động ngắn, thường dưới một năm.
Đây là những khoản chi phục vụ chủ yếu cho chức năng quản lý nhà nước về điều hành xã hội một cách thường 10 xuyên như: sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá thông tin, thể dục thể thao, đảm bảo xã hội, quốc phòng, an ninh. Đặc điểm chi ngân sách nhà nước : Một là, chi NSNN luôn được gắn với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà huyện đảm nhận, mức độ và phạm vi chi tiêu NSNN phụ thuộc vào nhiệm vụ của huyện trong từng thời kỳ. Với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước, nên quá trình phân phối, sử dụng phải luôn hướng đến đảm bảo hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước. Hai là, chi NSNN luôn hướng đến lợi ích chung của quốc gia và địa phương.
Với mục tiêu duy trì ổn định và phát triển đất nước lâu dài, vì lợi ích của nhân dân và của toàn xã hội, nên chi NSNN phải được kiểm soát nghiêm ngặt để tránh sự lạm dụng, tham ô, tham nhũng của những người quản lý và sử dụng NSNN. Ba là, tính hiệu quả của các khoản chi NSNN mang tính tổng hợp và toàn diện trên nhiều mặt. Có thể thấy chi NSNN được thể hiện một cách bao quát trong nhiều lĩnh vực như: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, ANQP. Hiệu quả sử dụng các khoản chi NSNN trong từng lĩnh vực được xem xét trong ngắn hạn và trong dài hạn; trước mắt và lâu dài.
Việc đánh giá hiệu quả không được dựa vào lợi ích cục bộ của các cơ quan sử dụng NSNN, mà phải được đánh giá những lợi ích về KT-XH mà toàn xã hội được hưởng thụ. Bốn là, các khoản chi NSNN đều là các khoản cấp phát cho các đơn vị quản lý, sử dụng và mang tính không hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp. Được thể hiện ở chỗ là hầu hết các khoản chi NSNN đều tương ứng với quy mô thu NSNN từ các địa phương và chủ thể xác định. Hệ thống ngân sách nhà nước Việt Nam “Theo Điều 4 Luật Ngân sách nhà nước Việt Nam quy định “Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND.