phần mở đầu và phần kết luận, Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT tại Phòng TC-KH huyện Cam Lộ giai đoạn 2018-2020 Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN cho sự nghiệp GD&ĐT đến năm 2025 4 P ẦN NỘ DUNG NG ÊN CỨU C ƢƠNG. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NSNN CHO SỰ NGHIỆP GD&ĐT 1. Lý luận cơ bản về NSNN và chi NSNN 1.Ngân sách nhà nước 1.Khái niệm ngân sách nhà nước NSNN là một nhân tố không thể thiếu trong tài chính mỗi quốc gia. Với sự xuất hiện của nhà nƣớc, sự tồn tại của hàng hóa và nhu cầu cấp thiết để hoàn thiện hệ thống tài chính, NSNN ra đời.
Luật Ngân sách Nhà nƣớc số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 của Quốc hội khóa 13 nêu rõ: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.1 Ngoài ra có thể hiểu, NSNN là quỹ tiền tệ chung của một quốc gia đƣợc thành lập dựa vào việc thu các loại thuế, phí và lệ phí. Hoạt động thể hiện quyền lực của bộ máy nhà nƣớc. NSNN gồm có hai hình thức biểu hiện chính là thu NSNN – luồng thu nhập quỹ NSNN và các khoản chi – xuất quỹ NSNN, đều phản ánh mối quan hệ kinh tế nhất định giữa nhà nƣớc với ngƣời đóng góp vào NSNN và giữa nhà nƣớc và những đơn vị thụ hƣởng quỹ.Hệ thống ngân sách nhà nước Hệ thống NSNN đƣợc hiểu là tổng thể các cấp ngân sách có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu, chi của mỗi cấp ngân sách. Tổ chức hệ thống ngân sách gắn bó chặt chẽ với việc tổ chức bộ máy Nhà nƣớc và vai trò, vị trí của bộ máy đó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc.
1 Khoản 14, Điều 4, Luật Ngân sách Nhà nƣớc số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 của Quốc hội khóa 13 5 Luật NSNN số 83/2015/QH13 năm 2015 nƣớc CHXHCN Việt Nam quy định hệ thống NSNN gồm hai cấp: NSNN gồm ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng. Ngân sách địa phƣơng gồm ngân sách của các cấp chính quyền địa phƣơng.2 Nhƣ vậy, ngân sách địa phƣơng bao gồm ba cấp: ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, ngân sách xã. Ngân sách địa phƣơng chịu trách nhiệm quản lý chi NSNN địa phƣơng, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý toàn diện kinh tế, xã hội của chính quyền cấp tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ƣơng, Chính quyền cấp tỉnh cần chủ động, sáng tạo trong việc động viên khai thác thế mạnh trên địa bàn địa phƣơng để đảm bảo chi và thực hiện cân đối ngân sách của cấp mình. Ngân sách cấp huyện, do chính quyền cấp huyện tổ chức thực hiện quản lý chi theo quy định phân cấp của tỉnh nhằm khai thác tốt nguồn thu để đảm bảo nhiệm vụ chi ngân sách cấp mình.
Ngân sách cấp xã, phƣờng do chính quyền cấp xã, phƣờng tổ chức thực hiện theo quy định của cấp huyện nhằm đảm bảo các nhiệm vụ phát sinh trên địa bàn địa phƣơng mình quản lý.Chức năng của Ngân sách Nhà nước Chức năng phân phối: Phân phối lần đầu là phân phối lại giá trị tổng sản phẩm xã hội, cùng với các nguồn tài chính khác dƣới hình thức động viên các nguồn thu vào NSNN theo các luật định nhƣ thuế, phí và lệ phí và các văn bản khác, sau đó phân phối lại thông qua các khoản chi đầu tƣ phát triển và chi thƣờng xuyên cho nền kinh tế - xã hội. Chức năng giám đốc: là việc giám sát, đôn đốc, kiểm tra đƣợc tiến hành một cách thƣờng xuyên, liên tục, cùng với quá trình vận động của các đối tƣợng phân phối của NSNN. Chức năng giám đốc của NSNN gắn liền với chức năng phân phối NSNN, thông qua phân phối để giám sát, kiểm tra và nhờ có kiểm tra, giám sát mà quá trình phân phối NSNN đƣợc thực hiện đúng pháp luật, có hiệu quả. Công cụ giám đốc NSNN là các nghiệp vụ thống kê, kế toán, kiểm toán, nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra tài chính, chế độ công khai tài chính, Ngân sách và bằng các phƣơng tiện thông tin đại chúng.
2 Điều 6, Luật Ngân sách Nhà nƣớc số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 của Quốc hội khóa 13 6 1.Vai trò của Ngân sách Nhà nước Trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta hiện nay, NSNN có các vai trò chủ yếu sau: Huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc và thực hiện sự cân đối thu chi tài chính của Nhà nƣớc. Đó là vai trò truyền thống của NSNN trong mọi mô hình kinh tế. Nó gắn chặt với các chi phí của Nhà nƣớc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình. Là công cụ tài chính của Nhà nƣớc góp phần thúc đẩy sự tăng trƣởng của nền kinh tế, điều chỉnh kinh tế vĩ mô.
Nhà nƣớc sử dụng NSNN nhƣ là công cụ tài chính để kiềm chế lạm phát, ổn định thị trƣờng, giá cả cũng nhƣ giải quyết các nguy cơ tiềm ẩn về bất ổn định KT-XH. Muốn thực hiện tốt vai trò này NSNN phải có quy mô đủ lớn để Nhà nƣớc thực hiện các chính sách tài khóa phù hợp (nới lỏng hay thắt chặt) kích thích sản xuất, kích cầu để góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, ổn định xã hội. Là công cụ tài chính góp phần bù đắp những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trƣờng, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trƣờng, thúc đẩy phát triền bền vững. Kinh tế thị trƣờng phân phối nguồn lực theo phƣơng thức riêng của nó, vận hành theo những quy luật riêng của nó.
Nhƣng mặt trái của nó là phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng trong xã hội, tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, tiềm ẩn nguy cơ bất ổn định xã hội, môi trƣờng sinh thái bị hủy hoại. Do đó nếu để Kinh tế thị trƣờng tự điều chỉnh mà không có vai trò của Nhà nƣớc thì sẽ phát triển thiếu bền vững. Vì vậy, Nhà nƣớc sử dụng NSNN thông qua công cụ là chính sách thuế khóa và chi tiêu công để phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cƣ trong xã hội, cung cấp hàng hóa dịch vụ công cho xã hội, chú ý phát triển cân đối giữa các vùng, miền đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trƣờng sinh thái.Chi ngân sách nhà nước Chi ngân sách nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo dự toán ngân sách đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định nhằm duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc luật định 7 Luật NSNN năm 2002 đã xác định, nội dung chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đảm bảo hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc, chi trả nợ của Nhà nƣớc, chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.3 Luật NSNN năm 2015 đã xác định, nội dung chi NSNN gồm: Chi đầu tƣ phát triển, chi dự trữ quốc gia, chi thƣờng xuyên, chi trả nợ lãi, chi viện trợ, các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.4 Nhƣ vậy có thể hiểu, chi NSNN là việc sử dụng quỹ tiền tệ quốc gia nhằm thúc đẩy chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nƣớc thông qua việc sử dụng tiền để điều hòa các quan hệ kinh tế hay đầu tƣ xây dựng các cơ sở vật chất, hạ tầng cho xã hội.Quản lý chi NSNN 1.Khái niệm quản lý chi NSNN Quản lý chi NSNN là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng các phương pháp và công cụ chuyên ngành để tác động đến quá trình chi ngân sách nhằm đảm bảo các khoản chi NSNN được thực hiện theo đúng chế độ chính sách đã được Nhà nước quy định, phục vụ tốt nhất việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ. Theo cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nƣớc ở nƣớc ta, quản lý chi NSNN đƣợc phân quyền cho hai cơ quan quản lý chính là cơ quan tài chính công (Bộ Tài chính, cơ quan tài chính địa phƣơng) và Kho bạc nhà nƣớc.
Cơ quan tài chính có nhiệm vụ quản lý quá trình phân bổ ngân sách theo đúng mục đích và chế độ đã đƣợc Nhà nƣớc quy định. Kho bạc nhà nƣớc giám sát quá trình sử dụng thực tế ngân sách nhằm đảm bảo việc sử dụng ngân sách theo đúng chế độ hiện hành. Trong khuôn khổ luận văn này, quản lý chi NSNN chỉ đƣợc nghiên cứu, xem xét trong phạm vi quyền hạn, chức năng của cơ quan quản lý tài chính công. 3 Khoản 2, Điều 2, Luật NSNN số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 của Quốc hội Khóa 11 4 Khoản 2 điều 5, Luật Ngân sách Nhà nƣớc số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 của Quốc hội khóa 13 8 Quản lý chi NSNN của cơ quan quản lý tài chính công đƣợc phân chia theo hai tuyến: Trung ƣơng và địa phƣơng.
Ở Trung ƣơng, Bộ Tài chính là đầu mối quản lý chi NSTW; Ở địa phƣơng, Sở Tài chính là đầu mối quản lý chi NSĐP có phân cấp ở mức độ nhất định cho các Phòng Tài chính – Kế hoạch cấp huyện và ban tài chính xã. Tuy nhiên, do hệ thống NSNN ở Việt Nam đƣợc cấu trúc theo nguyên tắc thống nhất nên NSĐP và NSTW đều đƣợc Chính phủ phê duyệt (Hàng năm hoặc giao ổn định 3-5 năm), đƣợc chế định trong một luật duy nhất, đƣợc chi tiêu theo chế độ chung. Thực chất của quản lý chi NSNN là giám sát quá trình xác định các nhiệm vụ cần chi NSNN, đảm bảo mối quan hệ hợp lý giữa các khoản chi cho các nhiệm vụ đó và giám sát quá trình sử dụng thực tế NSNN. Để làm tốt công việc này, cơ quan quản lý tài chính công thực hiện có hệ thống các biện pháp và công cụ đặc thù nhƣ Mục lục NSNN, định mức, chế độ chi NSNN, dự toán NSNN, quyết toán NSNN,.