Chương 1: THÀNH PHAN, NOI DUNG VA Ý NGHĨA CUA TAI LIEU LƯU TRU HÌNH THÀNH TRONG HOAT DONG CUA CAC DOANH NGHIỆP 100% VON DAU TƯ NƯỚC NGOÀI (Nghiên cứu các doanh nghiệp trên địa ban Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai) 1. Lịch sử hình thành và vai trò của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài trong nền kinh tế - xã hội của tỉnh Đồng Nai 1. Lịch sử hình thành và phát triển của các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài 1. Lịch sử hình thành và phát triển của ngành công nghiệp tại Đồng Nai a) Giai đoạn 1870 — 1986 Đồng Nai là một địa phương có bề dày lịch sử trong phát triển ngành công nghiệp va nhận được sự đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài từ rất sớm.
Theo Địa chí Dong Nai- tập 4 thì ngay từ năm 1870, đông Kresser lập một Xưởng đường ở Biên Hòa, là chỉ nhánh Công ty lọc đường Hồng Kông. Sau đó “năm 1880, nhà tư bản Lancelot mở Nhà máy đường Lạc An (tổng Chánh Mỹ Hạ). Năm 1897, nhà tư sản Blondel được chính quyền tỉnh Biên Hòa cho phép khai thác gỗ ở một số khu vực thuộc Trảng Bom, Xuân Lộc dé chế biến gỗ tròn thành gỗ xây dựng, đã mở một trại cưa thủ công ở làng Tân Mai. Trước năm 1900, một nhà tư sản Pháp là Pelleau xây dựng một xưởng sản xuất sơn và vécni chỉ hoạt động một thời gian thì ngưng”[69; tr.
Như vậy, ngay từ thé ki 19, đã có nhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vao tinh Đồng Nai đề xây dựng các nhà máy sản xuất, kinh doanh. Thế kỉ 20, Đồng Nai tiếp tục nhận được ngày càng nhiều sự đầu tư của các chủ sở hữu doanh nghiệp nước ngoài. “Năm 1907, Công ty kỹ nghệ và lâm nghiệp Biên Hòa được thành lập và xây dựng Hãng cưa Tân Mai (BIF) trang bị máy móc hiện đại thời bấy giờ - đó là nhà máy công nghiệp cỡ lớn đầu tiên được xây dựng ở Biên Hòa. Từ năm 1920 đến năm 1930, các nhà tư sản Pháp xây dựng ba xí nghiệp sơ chế mủ cao su cỡ nhỏ tại các đồn điền cao su An Lộc, Hàng Gòn, Cam My.
Nam 1958, Toà hành chính Long Khánh xây dung co sở phát điện diesel Xuan Lộc với công suất 8,0MW dé phục vụ cho khu vực tỉnh ly Long Khánh. Cuối thập niên 50 của thế kỷ XX, công nghiệp ở tỉnh Biên Hòa bắt đầu khởi động qua việc xây dựng Nhà máy giấy Đồng Nai COGIDO ở ấp An Hảo, xã Tam Hiệp và nhà máy giấy Tân Mai COGIVINA, cạnh Nhà máy cưa Tân Mai”[69;tr. Với vi trí địa lý thuận lợi và những tiềm lực về các nguồn tài nguyên, Đồng Nai như một địa chỉ lý tưởng dé các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn trong quá trình mở rộng sản xuất kinh doanh của mình. Do vậy, “tháng 6 - 1961 chính quyền Sài Gòn lập ra Ủy ban nghiên cứu thuộc Trung tâm khuếch trương kỹ nghệ SONADEZI (Société nationale pour le développement des zônes industrielles) thuộc Bộ kinh tế.
Đến 21 - 5 - 1963 ra sắc lệnh số 49/KT về việc thành lập Khu kỹ nghệ Biên Hòa. 17 Năm 1974, công nghiệp của hai tỉnh Biên Hòa và Long Khánh phát triển nhiều lần so với trước năm 1954. Lần đầu tiên một khu kỹ nghệ nhiều ngành có quy mô lớn nhất miền Nam ra đời, các máy móc thiết bị hiện đại sản xuất nhiều mặt hàng đáp ứng phần nào nhu cầu xã hội, bảo đảm cung ứng một phần hậu cần cho quân đội Sai Gòn, mỗi năm có thé tiết kiệm khoảng 18 triệu đôla Mỹ, nhưng quan trọng hon nó giúp thay đổi cơ cau kinh tế trong tỉnh và giải quyết công ăn việc làm cho dân chúng. Nhìn chung công nghiệp Đồng Nai trước ngày giải phóng 30 - 4 - 1975 đã phát triển, nhưng phần lớn các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ (từ 50 - 100 công nhân) và tập trung chủ yếu tại Biên Hòa (72 trong 86 nhà máy, xí nghiệp của toàn tỉnh tập trung ở Biên Hòa).
Máy móc thiết bị thuộc nhiều nước: Mỹ, Nhật, Tây Đức, Đài Loan. đã lắp đặt từ hàng chục năm về trước. Nguyên liệu, vật tư, phụ tùng và kỹ thuật đều phụ thuộc vào nước ngoài. Đầu năm 1976 Trung ương tiễn hành phân cấp quản lý công nghiệp cho các bộ va địa phương, trong đó Trung ương quan ly 40 nhà máy.
Dia phương quan lý 46 nha máy, xí nghiệp. Đồng thời trong năm 1976, tỉnh cũng thành lập Ty Công nghiệp Đồng Nai (sau đổi thành Sở Công nghiệp Đồng Nai hoạt động cho đến ngày nay) dé quản lý Nhà nước đối với ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Từ năm 1975 -1986, tình hình kinh tế tinh Đồng Nai nói chung và công nghiệp nói riêng trải qua hai thời kỳ có tính bước ngoặt quan trọng, đó là thời kỳ 1976 - 1985: Quản lý công nghiệp nói riêng và quản lý kinh tế nói chung thời kỳ này áp dụng cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp. Đến 31 - 12 - 1980 trên địa bàn tinh Đồng Nai đã khôi phục và đi vào hoạt động ổn định 39 xí nghiệp quốc doanh (XNQD) do Trung ương quản lý; 46 XNQD cũ do địa phương quản lý.
Đồng thời tỉnh còn xây dựng mới được 29 XNQD.; vận động thành lập 60 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp với 4.624 lao động; 376 tô hợp sản xuất và 4.051 cơ sở sản xuất tiêu thủ công nghiệp với 4. Có thể khang định rằng Đồng Nai nói chung và Thành phố Biên Hòa nói riêng đã được các nhà đầu tư cũng như chính quyền Nhà nước quan tâm đầu tư phát triển công nghiệp từ rất sớm. Nhờ vậy, ở Đồng Nai đã hình thành những điều kiện về cơ sở vật chất cần thiết cũng như xây dựng tương đối hoàn chỉnh về hệ thống giao thông cũng như các điều kiện khác cho ngành công nghiệp phát triển về sau. Lịch sử phát triển của ngành công nghiệp ở Đồng Nai cũng là minh chứng cho thấy ở đây là một địa chỉ có nhiều tiềm năng và là địa chỉ lý tưởng dé thu hút dau tư.
b) Giai đoạn 1986 — nay Từ năm 1986 đến nay, lịch sử công nghiệp đã chứng kiến sự đầu tư mạnh mẽ của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài vào tỉnh Đồng Nai. Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp cũng đã phản ánh chính xác các chính sách và đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước đối với ngành công nghiệp. “Nghị quyết của Đại hội tinh Đảng bộ Đồng Nai lần thứ IV xác định nhiệm vụ của địa phương: chuyền đổi từ 18 cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, xoá bỏ bao cấp, tiến hành rà soát, sắp xếp lại các cơ sở sản xuất, mở rộng quyên tự chủ sản xuất kinh doanh và hạch toán kinh tế day đủ cho các doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong thời ky này về giá trị tổng san lượng công nghiệp trên địa bàn (tính theo giá cố định 1989): năm 1985 đạt 325.Ngành công nghiệp Đồng Nai hiện nay cung cấp cho xã hội và xuất khẩu nhiều sản pham hang hóa với nhiều chủng loai”[69;tr.
“Với vị thế "thiên thời địa lợi nhân hòa”, Đồng Nai trở thành địa danh hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước. Tính đến cuối tháng 11 năm 1997, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có 222 dự án đầu tư của nước ngoài được cấp giấy phép với số vôn đầu tư là 4.120 triệu USD, trong đó đầu tư vào ngành công nghiệp có 208 dự án với sô vốn đầu tư là 3.907 triệu USD, chiếm 94,8% tổng số vốn đầu tư. Hình thức đầu tư là: liên doanh, 100% vốn nước ngoài, hợp đồng hợp tác kinh doanh. Đã có 22 nước đầu tư ở Đồng Nai gồm: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Pháp, Anh, Nga, Thụy Sĩ, Trung Quốc, Ukraina, Canada, Mỹ, Bi, Đức, Nhật, Hà Lan, Úc, Indonesia, Na Uy, Newzealand.
“Tính đến nay, tại 3l KCN Đồng Nai đã có 39 quốc gia và vùng lãnh thổ hoạt động dau tư với tổng số 885 dự án có vốn dau tư nước ngoài với t ông vốn đầu tư 14. Những ngành công nghiệp chủ yếu ở Đồng Nai hiện nay (xem phụ lục 2) Lich sử phát triển ngành công nghiệp ở tinh Đồng Nai đã cho thấy đây là một địa chỉ có đủ các điều kiện lý tưởng đề phát triển về công nghiệp. Thực tế, Đồng Nai hiện nay đang được coi là trung tâm công nghiệp lớn của cả nước. Với những điều kiện thuận lợi sẵn có, Đồng Nai đã và đang được các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư ngày càng mạnh mẽ đề xây dựng các nhà máy sản xuất, kinh doanh.
Lịch sử hình thành và phát triển các Khu công nghiệp trên địa bàn Thành phố Biên Hòa — Đồng Nai Thành phố Biên Hòa thuộc tỉnh Đồng Nai được coi là trung tâm công nghiệp quan trọng của tinh và của cả nước. Hiện nay trên địa bàn Thành phó đã hình thành 5 khu công nghiệp(KCN), khu chế xuất(KCX) và một số cụm công nghiệp với gần 1000 doanh nghiệp đang hoạt động. Trong đó có nhiều doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài lớn đã đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất, kinh doanh tại đây. “Khu công nghiệp Biên Hòa | hình thành trên cơ sở Khu kỹ nghệ Biên Hòa cũ (1963) nhưng diện tích quy hoạch hẹp hơn (382/511 ha).
Hiện nay Khu công nghiệp Biên Hòa 1 có tất cả 62 cơ sở sản xuất công nghiệp đang hoạt động với số lao động là 21.237 người, trong đó có 36 nhà máy, xí nghiệp quốc doanh do trung ương quan lý với 15.890 lao động; 8 nhà máy, xí nghiệp quốc doanh do địa phương quan lý với 3.079 lao động: 7 doanh nghiệp tư nhân với 193 lao động; 11 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu tư là 89.833 ngàn USD và 2. Ngoài các cơ sở trên còn có 3 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài với số vốn là 41.877 ngàn USD đang trong giai đoạn xây dựng”[69;tr. 19 Khu công nghiệp Biên Hòa 2 thành lập theo quyết định số 742/TTg ngày 14 - 11 - 1995 của Thủ tướng Chính phủ có diện tích 400 ha. Quản lý xây dựng và kinh doanh dịch vụ hạ tầng kỹ thuật KCN Biên Hòa 2 do Công ty SONADEZI.
“Tính đến 30 - 09 - 1997, Khu công nghiệp Biên Hòa 2 đã có 93 dự án đầu tư được cấp giấy phép với số von đăng ký là 1.015 triệu USD, diện tích cấp cho các dự án đầu tư là 210 ha và số lao động sử dụng là: 22.