Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ mang tên "Chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam", thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật (mã số: 62 38 01 01), được tác giả Nguyễn Hồng Sơn thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh vào năm 2019 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS Lê Minh Thông.

Về tính cấp thiết, tác giả chỉ ra rằng trong tiến trình phát triển lịch sử, vai trò và chức năng của nhà nước đối với kinh tế - xã hội luôn là vấn đề trọng tâm, phản ánh đặc trưng thể chế của từng thời kỳ. Tại Việt Nam, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn liền với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là chủ trương nhất quán. Tuy nhiên, sau hơn 30 năm đổi mới và hơn 10 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), việc tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP đặt ra nhiều đòi hỏi mới cho bộ máy nhà nước. Thực tế cho thấy chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước còn bộc lộ bất cập: hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chưa ngăn chặn hiệu quả tiêu cực, tham nhũng trong quản lý đất đai và tài nguyên, việc bảo đảm quyền tự do kinh doanh và hiệu quả thu hút đầu tư chưa cao.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả nhận định ngay trong lý luận tồn tại nhiều khoảng mờ và chồng chéo giữa ba khái niệm: "chức năng kinh tế", "chức năng quản lý nhà nước về kinh tế" và "chức năng quản lý kinh tế". Sự thiếu hụt các định nghĩa phân định rành mạch dẫn đến việc thiết kế, ban hành, giám sát và đánh giá chính sách kinh tế kém hiệu lực; đồng thời tạo ra khoảng cách lớn giữa quyết sách được ban hành và việc hiện thực hóa trong thực tiễn. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, đặc biệt là giai đoạn từ khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực.

Mục đích nghiên cứu của luận án là đề xuất các quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm và phát huy quyền con người, hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Phân tích, khái quát, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước bao gồm khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương pháp và các điều kiện bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  2. Đánh giá thực trạng việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
  3. Phân tích các quan điểm và đề xuất giải pháp bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.

Tác giả đưa ra giả thuyết nghiên cứu: Chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được nhận thức, từng bước đổi mới, hoàn thiện trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay trong tiến trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, nhận thức về chức năng này còn nhiều bất cập, thiếu nhất quán, còn ảnh hưởng nặng nề của tư duy tập trung bao cấp, xin cho; Nhà nước còn can thiệp vào nhiều hoạt động vi mô, chưa làm tốt chức năng quản lý vĩ mô kiến tạo phát triển. Mô hình chức năng quản lý kinh tế phải được đặt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và Nhà nước kiến tạo phát triển, không phải là Nhà nước kế hoạch hóa quan liêu bao cấp và cũng không phải là Nhà nước điều chỉnh trong nền kinh tế thị trường tự do.

Luận án xây dựng 3 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi nghiên cứu 1: Chức năng quản lý kinh tế của nhà nước là gì? Đặc điểm, nội dung, phương pháp, các điều kiện bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là gì?
  • Câu hỏi nghiên cứu 2: Quá trình vận động, phát triển và thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có tuân theo quy luật khách quan không? Còn có những hạn chế gì và do những nguyên nhân nào?
  • Câu hỏi nghiên cứu 3: Quan điểm nào cần quán triệt để bảo đảm chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay? Có những giải pháp nào để hoàn thiện và bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước?

Về đối tượng nghiên cứu, luận án tập trung vào chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên các phương diện xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật và giải quyết các xung đột, tranh chấp về kinh tế, xử lý các vi phạm trong hoạt động kinh tế.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu chức năng quản lý kinh tế thông qua mối quan hệ Nhà nước với thị trường và xã hội, gắn với nội dung và phương pháp thực hiện chức năng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Phạm vi không gian: Trên lãnh thổ Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2013 đến thời điểm thực hiện (năm 2019); có so sánh với giai đoạn 1976 - 2013.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia theo hai mảng nghiên cứu trong nước và nghiên cứu nước ngoài.

Về nghiên cứu trong nước, tác giả điểm lại ba nhóm công trình:

  • Nhóm công trình về vai trò, chức năng của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế: Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.04 của Lương Xuân Quỳ (nghiên cứu cơ chế thị trường và vai trò quản lý của Nhà nước); công trình của Nguyễn Phú Trọng (chủ biên cuốn sách "Đổi mới và phát triển ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn", nêu rõ vai trò cung cấp hàng hóa công, xây dựng thể chế và phân phối lại); đề tài cấp Bộ của Phạm Thái Việt (điều chỉnh chức năng và thể chế dưới tác động của toàn cầu hóa); công trình của Phạm Minh Chính và Vương Quân Hoàng ("Kinh tế Việt Nam: Thăng trầm và đột phá", phân tích công cụ tài chính - tiền tệ); bài viết của Trần Ngọc Đường và Đinh Xuân Thảo tại Hội thảo lý luận lần thứ 10 Việt - Trung (2014); Đề tài KX.26/11-15 của Hội đồng Lý luận Trung ương (về định hướng xã hội chủ nghĩa và vai trò kiến tạo phát triển); công trình của các nhà luật học Đại học Quốc gia Hà Nội nghiên cứu Điều 52 Hiến pháp 2013; sách "Từ nhà nước điều hành sang nhà nước kiến tạo phát triển" (2016); Báo cáo Thường niên kinh tế Việt Nam 2017; sách của các tác giả về hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (2016); sách về xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính (2017); Luận án phó tiến sĩ của Chu Hồng Thanh (1995, quản lý kinh tế bằng pháp luật); Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Việt Hương (1998, vai trò công cụ kinh tế và pháp lý); Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hồng Sơn (2002, vai trò kinh tế của Nhà nước).
  • Nhóm công trình về chức năng kinh tế và chức năng quản lý nhà nước về kinh tế: Luận án tiến sĩ của Trần Thái Dương (2009, xác định chức năng kinh tế gồm tổ chức kinh tế và quản lý kinh tế vĩ mô); bài nghiên cứu của Bùi Xuân Đức (2012); sách của Võ Đại Lược (chủ biên, 2011, đề xuất đổi mới nhận thức chức năng kinh tế); đề tài cấp Bộ của Nguyễn Văn Cương (2017, phân tích các bất cập khi Nhà nước can thiệp sâu vào kinh tế); các Giáo trình cao cấp lý luận chính trị và Đề cương bài giảng của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1999, 2014, 2018); sách của Nguyễn Hữu Viện (phân định chức năng quản lý nhà nước về kinh tế với chức năng quản lý kinh doanh); Đề tài KX.01-09 của Lương Xuân Quỳ (2005); sách do Nguyễn Phú Trọng chủ biên về các mối quan hệ lớn (2011); sách của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam về thể chế phát triển nhanh - bền vững (2019).
  • Nhóm công trình đề cập trực tiếp đến chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước: Từ điển luật học (2006, xếp chức năng quản lý kinh tế vào chức năng đối nội); sách do Trần Nhâm chủ biên (2001); Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011, phân định chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước với quản lý kinh doanh vốn và tài sản); tham luận của Trần Du Lịch tại Hội thảo lý luận Việt - Trung lần thứ 8; bài viết của Nguyễn Mại (2014); Giáo trình của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2012, 2014).

Về nghiên cứu ở nước ngoài, tác giả hệ thống hóa các trường phái lý thuyết lớn:

  • Lý thuyết tự do kinh tế (trường phái cổ điển và tân cổ điển): A. Smith (thuyết Bàn tay vô hình, nguyên lý nhà nước không can thiệp), D. Ricardo (điều tiết qua thuế), J.B. Say; L. Walras (thuyết Cân bằng tổng quát), J.B. Clark (luật chống độc quyền), A. Marshall (điều tiết cơ cấu ngành qua thuế và trợ cấp), A.C. Pigou; cùng các đại diện chủ nghĩa tự do mới như W. Eucken, A. Müller-Armack, M. Friedman, H.C. Simons, A. Laffer.
  • Lý thuyết kinh tế có điều tiết: J.M. Keynes (phê phán tự do kinh tế, chủ trương Bàn tay hữu hình, điều chỉnh tổng cầu hữu hiệu thông qua ngân sách, đầu tư công, chính sách tiền tệ và lạm phát có mức độ); trường phái Keynes mới tại Pháp (coi trọng công cụ kế hoạch hóa chỉ dẫn) và tại Mỹ (coi trọng ngân sách và chi tiêu chính phủ); Lý thuyết điều tiết tại Pháp (thập niên 1970) và Lý thuyết thể chế tại Mỹ (thập niên 1960).
  • Lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp: P. Samuelson ("Kinh tế học", kết hợp cả Bàn tay vô hình và Bàn tay hữu hình với bốn chức năng: thiết lập khuôn khổ pháp luật, bảo đảm hiệu quả, công bằng và ổn định kinh tế vĩ mô).
  • Nghiên cứu thực nghiệm và kinh nghiệm phát triển: Irma Adelman và Cynthia Taft Morris (vai trò nhà nước ở các nền kinh tế đang phát triển); J. Stiglitz (kinh tế học công cộng, phân tích hiệu quả Pareto và thất bại của thị trường); David Osborne và Ted Gaebler ("Đổi mới hoạt động của Chính phủ"); François Godement, V. Portjakov, Hạ Vân (kinh nghiệm chuyển đổi chức năng quản lý kinh tế ở Trung Quốc); Arne Svensson (chức năng hợp tác quốc tế); P. Krugman; Miroslav Beblavý và A. Kurekova (nghiên cứu tại Hungary và Slovakia).
Nhóm tài liệu Đại diện tiêu biểu Nội dung trích dẫn chính
Vai trò kinh tế của Nhà nước (Trong nước) Lương Xuân Quỳ, Nguyễn Phú Trọng, Phạm Minh Chính, Hội đồng Lý luận Trung ương Điều tiết thị trường vĩ mô, cung cấp dịch vụ công, xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển.
Pháp luật kinh tế & Quản lý bằng luật Chu Hồng Thanh, Trần Ngọc Đường, Nguyễn Thị Việt Hương, ĐHQG Hà Nội Quản lý nhà nước bằng pháp luật, phân công phân cấp và hoàn thiện thể chế Hiến pháp 2013.
Phân định chức năng quản lý kinh tế Trần Thái Dương, Nguyễn Văn Cương, Nguyễn Hữu Viện, Từ điển luật học Tách biệt chức năng kinh tế với chức năng quản lý nhà nước về kinh tế; phân định cơ quan quản lý và doanh nghiệp.
Lý thuyết kinh tế nước ngoài A. Smith, J.M. Keynes, P. Samuelson, J. Stiglitz, Chalmers Johnson Bàn tay vô hình, Bàn tay hữu hình, kinh tế hỗn hợp và mô hình nhà nước kiến tạo phát triển.

Từ việc phân tích tổng quan, tác giả xác định vị trí của luận án: Giải quyết các khoảng trống lý luận chưa được phân định rõ, đặt chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước trong mối quan hệ Nhà nước - thị trường - xã hội, cung cấp cách tiếp cận toàn diện từ góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, đồng thời gắn với thực tiễn thực hiện sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận nền tảng là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước, pháp luật, về bản chất, chức năng, vai trò của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Tác giả vận dụng các khung lý thuyết kinh tế: trường phái thị trường tự do, kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trường phái kinh tế hỗn hợp và lý thuyết về nhà nước kiến tạo phát triển (developmental state) của Chalmers Johnson.

Phương pháp luận chung được sử dụng là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, bảo đảm xem xét đối tượng theo quan điểm biện chứng, lịch sử - cụ thể, hệ thống và toàn diện.

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, luận án thuộc hướng tiếp cận định tính kết hợp phân tích tài liệu thứ cấp, triển khai cụ thể theo từng chương:

  • Chương 1: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê mô tả tài liệu, phương pháp lịch sử và lôgic nhằm tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, chỉ ra các khoảng trống và xác định nhiệm vụ nghiên cứu.
  • Chương 2: Sử dụng phương pháp hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, so sánh để xây dựng khung lý thuyết, làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương pháp và điều kiện bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế.
  • Chương 3: Sử dụng phương pháp so sánh và thống kê, phương pháp lịch sử và lôgic, phân tích tài liệu thứ cấp để khảo cứu quá trình phát triển thời kỳ đổi mới và thực trạng thực thi chức năng quản lý kinh tế từ năm 2013 đến nay.
  • Chương 4: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa nhằm xây dựng hệ thống quan điểm và các nhóm giải pháp có tính khả thi.

Nguồn tư liệu, dữ liệu của luận án bao gồm: văn kiện Đại hội Đảng, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Hiến pháp năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật kinh tế; các số liệu báo cáo tổng kết, tài liệu thống kê chính thức từ cơ quan nhà nước; các sách chuyên khảo, giáo trình, tạp chí khoa học chuyên ngành pháp lý và kinh tế; các báo cáo và tư liệu quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, từ đó xác lập tính cấp thiết và khung giả thuyết cho toàn bộ đề tài. Tác giả phân tích 12 công trình, bài viết tiêu biểu trong nước đề cập trực tiếp đến cụm từ "chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước", chỉ rõ các nghiên cứu này chủ yếu xuất hiện sau biến cố kinh doanh kém hiệu quả của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước (điển hình là Vinashin năm 2010), nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu chỉnh thể dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.

Từ tổng quan tài liệu, chương xác định 4 vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu sâu sắc những vấn đề lý luận về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước: xác định khái niệm, làm rõ các đặc điểm, nội dung, phương pháp thực hiện và các điều kiện bảo đảm.
  2. Vấn đề thực hiện chức năng quản lý kinh tế trong mối quan hệ giữa các cơ quan của bộ máy nhà nước nhằm cân bằng và kiểm soát quyền lực nhà nước trong điều kiện nhất nguyên chính trị, tránh chồng lấn và đùn đẩy trách nhiệm.
  3. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với cơ chế tham gia, phản hồi của nhân dân đối với quá trình xây dựng và thực hiện thể chế kinh tế.
  4. Phát triển kinh tế bao trùm theo tinh thần Chương trình nghị sự 2030 của Liên Hợp Quốc ("không bỏ ai lại phía sau"), nghiên cứu các giải pháp liên ngành bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế trong điều kiện hội nhập.

Chương 2: Cơ sở lý luận về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Chương 2 làm rõ nền tảng lý luận về chức năng quản lý kinh tế. Tác giả luận giải quan niệm về chức năng của nhà nước nói chung, xếp chức năng kinh tế vào nhóm chức năng đối nội chủ yếu, bao gồm hai mặt: mặt "tổ chức kinh tế" (Nhà nước tham gia với tư cách chủ sở hữu, nhà đầu tư, quản lý doanh nghiệp nhà nước) và mặt "quản lý kinh tế" (Nhà nước kiến tạo môi trường, thực thi quản lý hành chính về kinh tế).

Luận điểm quan trọng của chương là làm rõ mối quan hệ giữa "chức năng kinh tế" và "chức năng quản lý kinh tế". Chức năng kinh tế có nội hàm rộng lớn hơn, bao gồm cả tính quản trị và tính quản lý; còn chức năng quản lý kinh tế mang tính quản lý công quyền, là một "tập con" của chức năng kinh tế. Khi phân tích theo nghĩa rộng, chức năng quản lý kinh tế được thực hiện thông qua hoạt động của cả ba nhánh quyền lực: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo nghĩa hẹp, chức năng này đồng nhất với hoạt động quản lý hành chính nhà nước về kinh tế của Chính phủ.

Chương cũng phân tích và so sánh chức năng quản lý kinh tế qua 4 mô hình/trường phái:

  • Trường phái kinh tế thị trường tự do: Đề cao quy luật tự điều tiết, Nhà nước không can thiệp sâu, chỉ bảo đảm an ninh, tài sản và khắc phục thất bại cạnh tranh qua mô hình nhà nước điều chỉnh.
  • Trường phái kinh tế kế hoạch hóa tập trung: Nhà nước can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính, chỉ tiêu pháp lệnh, triệt tiêu vai trò điều tiết khách quan của thị trường.
  • Trường phái kinh tế hỗn hợp: Kết hợp cả cơ chế thị trường và sự can thiệp của Nhà nước nhằm hướng tới hiệu quả, công bằng và ổn định.
  • Trường phái nhà nước kiến tạo phát triển: Nhà nước chủ động định hướng phát triển, thiết lập thể chế pháp lý, nuôi dưỡng môi trường cạnh tranh bình đẳng và hỗ trợ thị trường vận hành hiệu quả.

Bên cạnh đó, chương phân tích nội dung, phương pháp (phương pháp hành chính, kinh tế, giáo dục thuyết phục) và các điều kiện bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế (điều kiện chính trị - pháp lý, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính - vật chất).

Chương 3: Quá trình phát triển và thực trạng thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Chương 3 tái hiện quá trình phát triển chức năng quản lý kinh tế qua các giai đoạn đổi mới, đồng thời đánh giá thực trạng giai đoạn từ sau Hiến pháp năm 2013 đến nay (2019).

Quá trình phát triển phản ánh bước chuyển biến từ nhận thức coi Nhà nước là chủ thể điều hành sản xuất trực tiếp sang Nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô, tôn trọng các quy luật của kinh tế thị trường. Đánh giá thực trạng từ năm 2013, chương chỉ rõ:

  • Những kết quả đạt được: Thể chế hóa các quy định của Hiến pháp 2013 về kinh tế; từng bước hoàn thiện khung pháp luật về đầu tư kinh doanh; cải cách thủ tục hành chính, giảm chi phí thời gian cho người dân và doanh nghiệp; mở rộng hội nhập quốc tế thông qua các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới; duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và kiềm chế lạm phát.
  • Những hạn chế, bất cập: Hệ thống pháp luật kinh tế còn thiếu đồng bộ, có mâu thuẫn, chồng chéo; hiệu lực thực thi pháp luật chưa cao; việc quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên còn sơ hở, làm phát sinh tiêu cực, tham nhũng; hiệu quả khu vực doanh nghiệp nhà nước chưa tương xứng với nguồn lực nắm giữ; các tranh chấp kinh tế giải quyết còn chậm; sự phối hợp và phân công, phân cấp giữa các cơ quan trung ương và địa phương còn lúng túng.
  • Nguyên nhân: Nhận thức lý luận về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và vai trò của Nhà nước kiến tạo chưa thật đầy đủ; tàn dư tư duy bao cấp, cơ chế xin - cho; tổ chức bộ máy quản lý còn cồng kềnh, thiếu liên kết; năng lực và tính liêm chính của một bộ phận cán bộ, công chức chưa đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn.

Chương 4: Quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Chương 4 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp toàn diện. Tác giả xác định các quan điểm mang tính nguyên tắc:

  • Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình thực hiện chức năng quản lý kinh tế.
  • Phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và các quy luật khách quan của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Chuyển mạnh phương thức quản lý từ mệnh lệnh hành chính sang Nhà nước kiến tạo phát triển, lấy sự phục vụ người dân và doanh nghiệp làm thước đo.
  • Bảo đảm phát huy quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực kinh tế, hướng tới phát triển kinh tế bao trùm và bền vững.
  • Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với giữ vững độc lập, tự chủ kinh tế.

Hệ thống giải pháp được cấu trúc thành các nhóm:

  • Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế: Rà soát, sửa đổi, bổ sung các luật về đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, tài chính nhằm tạo khung pháp lý đồng bộ, minh bạch, loại bỏ giấy phép con không cần thiết.
  • Nhóm giải pháp đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế: Phân định rành mạch thẩm quyền, trách nhiệm giữa cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; kiện toàn Chính phủ theo hướng kiến tạo, hành động; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu lực tổ chức thi hành pháp luật và giải quyết tranh chấp kinh tế: Nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân và trọng tài thương mại; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phòng chống tham nhũng, lãng phí trong quản lý nguồn lực công.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện các điều kiện bảo đảm: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý kinh tế có năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ; hiện đại hóa cơ sở vật chất, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính công.

Kết quả và những đóng góp mới

Theo công bố của tác giả trong văn bản, luận án đạt được 4 đóng góp mới chủ yếu:

  1. Đóng góp về mặt tổng quan: Luận án đã nghiên cứu tổng quan toàn diện tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài ở trong nước và nước ngoài, từ đó xác định cụ thể các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước trên các phương diện lý luận, thực tiễn và giải pháp.
  2. Đóng góp về mặt lý luận: Luận án đưa ra khái niệm chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước; xác định các đặc điểm, nội dung, phương pháp và điều kiện bảo đảm thực hiện chức năng này; đồng thời phân tích làm rõ vai trò của Nhà nước trong việc thể chế hóa quan điểm, đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Luận án phân định rành mạch giữa chức năng kinh tế (rộng hơn, gồm cả mặt tổ chức kinh tế và quản lý kinh tế) với chức năng quản lý kinh tế (mang tính quản lý công quyền), tạo cơ sở lý luận cho cải cách hành chính, cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
  3. Đóng góp về mặt thực tiễn: Luận án đánh giá thực trạng thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn từ năm 2013 đến nay; chỉ rõ những kết quả đạt được, các hạn chế, bất cập nổi cộm và nguyên nhân của những tồn tại đó.
  4. Đóng góp về quan điểm và giải pháp: Luận án xây dựng hệ thống các quan điểm có tính nguyên tắc và đề xuất các nhóm giải pháp toàn diện, khoa học, khả thi nhằm bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án bị giới hạn bởi phạm vi thời gian nghiên cứu trực tiếp (trọng tâm từ khi ban hành Hiến pháp năm 2013 đến năm 2019), các số liệu và văn bản chủ yếu phản ánh giai đoạn trước năm 2020. Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa vào tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp, văn bản quy phạm pháp luật và các tài liệu thống kê hiện có, chưa tiến hành điều tra xã hội học diện rộng hay các khảo sát định lượng chuyên sâu đối với doanh nghiệp và người dân.

Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản chỉ ra các nội dung cần tiếp tục triển khai:

  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá sự biến đổi trong thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước khi các FTA thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA, RCEP) đi vào thực thi sâu rộng.
  • Nghiên cứu cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế trong điều kiện hệ thống chính trị nhất nguyên.
  • Nghiên cứu sâu hơn về phát triển kinh tế bao trùm ("không bỏ ai lại phía sau" theo Chương trình nghị sự 2030 của Liên Hợp Quốc) gắn với cơ chế tham gia, tương tác và phản hồi của người dân vào quá trình hoạch định, thực thi thể chế kinh tế.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với các cơ sở đào tạo, trường đại học, học viện: Luận án là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Luật Kinh tế, Luật Hành chính, Quản lý kinh tế và Kinh tế chính trị.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: Là nguồn tư liệu tham khảo cho các cơ quan tham mưu, cơ quan lập pháp trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật kinh tế; cho Chính phủ và các bộ, ngành, chính quyền địa phương trong cải cách hành chính, đổi mới phương thức quản lý kinh tế vĩ mô.
  • Đối với đội ngũ cán bộ, công chức: Cung cấp nhận thức lý luận và kỹ năng phân định thẩm quyền quản lý nhà nước về kinh tế với hoạt động quản trị kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi công vụ.

Phần đáng tham khảo nhất của luận án là Chương 2 với sự phân định rạch ròi giữa "chức năng kinh tế" và "chức năng quản lý kinh tế", cùng hệ thống giải pháp tổ chức bộ máy và thể chế được trình bày tại Chương 4.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước" được phân biệt với "chức năng kinh tế của Nhà nước" như thế nào trong luận án? Theo luận án, chức năng kinh tế có nội hàm rộng lớn hơn, thể hiện toàn bộ vai trò kinh tế của Nhà nước và bao gồm hai mặt: mặt "tổ chức kinh tế" (Nhà nước đóng vai trò chủ sở hữu, trực tiếp đầu tư, khai thác tài sản công, sản xuất kinh doanh qua doanh nghiệp nhà nước) và mặt "quản lý kinh tế" (Nhà nước đóng vai trò bộ máy công quyền kiến tạo và quản lý hành chính về kinh tế). Do đó, chức năng quản lý kinh tế là một "tập con", thuần túy mang tính quản lý công quyền, phân biệt với tính chất quản trị kinh doanh trong chức năng kinh tế.

2. Luận án phân loại các trường phái lý thuyết kinh tế tiếp cận vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước gồm những trường phái nào? Tác giả hệ thống hóa 4 trường phái chính:

  • Trường phái kinh tế thị trường tự do (A. Smith, D. Ricardo, J.B. Say, trường phái tân cổ điển và tự do mới).
  • Trường phái kinh tế kế hoạch hóa tập trung (mô hình can thiệp hành chính trực tiếp, triệt tiêu tín hiệu thị trường).
  • Trường phái kinh tế hỗn hợp (tiêu biểu là P. Samuelson, kết hợp cả thị trường và Nhà nước với 4 chức năng kinh tế).
  • Trường phái nhà nước kiến tạo phát triển (tiêu biểu từ Chalmers Johnson, áp dụng thành công tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore).

3. Phạm vi thời gian và không gian nghiên cứu của đề tài được giới hạn ra sao? Về không gian, đề tài nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Về thời gian, luận án tập trung khảo sát giai đoạn từ năm 2013 (khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua) đến thời điểm nghiên cứu (năm 2019); đồng thời có phân tích so sánh, đối chiếu với giai đoạn lịch sử từ năm 1976 đến năm 2013.

4. Bốn vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu được tác giả rút ra từ Chương 1 là gì? Bốn vấn đề bao gồm:

  • Đi sâu nghiên cứu lý luận làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung, phương pháp và điều kiện bảo đảm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước.
  • Nghiên cứu việc thực hiện chức năng quản lý kinh tế trong mối quan hệ giữa các cơ quan của bộ máy nhà nước nhằm cân bằng và kiểm soát quyền lực trong điều kiện nhất nguyên chính trị.
  • Nghiên cứu cơ chế tiếp nhận phản hồi, nâng cao sự tham gia của nhân dân vào quá trình xây dựng và thực thi thể chế kinh tế.
  • Nghiên cứu giải pháp phát triển kinh tế bao trùm theo Chương trình nghị sự 2030 của Liên Hợp Quốc ("không bỏ ai lại phía sau") trong bối cảnh hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hồng Sơn là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn về chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luận án đã làm rõ sự khác biệt giữa chức năng kinh tế và chức năng quản lý kinh tế, đặt đối tượng nghiên cứu trong bối cảnh chuyển đổi sang Nhà nước kiến tạo phát triển và vận hành kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Công trình phản ánh thực trạng thực thi giai đoạn từ sau Hiến pháp năm 2013 đến năm 2019, từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng.