Chương 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ KINH DOANH NƯỚC SẠCH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm quản lý Frederick W. Taylor (2002) là một trong những đại biểu xuất sắc của trường phái quản lý theo khoa học. Để trả lời câu hỏi quản lý là gì ông cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Ông đã đưa ra các tư tưởng chính của thuyết quản lý theo khoa học là: Tiêu chuẩn hóa công việc, chuyên môn hóa lao động, cải tạo các hệ quản lý.
Fayol Henry (1916) là người đưa ra thuyết quản lý hành chính ở Pháp, định nghĩa: “Quản lý hành chinh là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức điều khiển, phối hợp và kiểm tra”. Ông là người đầu tiên nêu một cách rõ ràng các yếu tố của quá trình quản lý, cách thức phân tích một quá trình quản lý phức tạp thành các chức năng tương đối độc lập và mang tính phổ biến gồm các chức năng: Dự đoán – Lập kế hoạch; Tổ chức; Điều khiển; Phối hợp; Kiểm tra. Để trả lời câu hỏi quản lý là gì thì tác giả Nguyễn Thị Gái (2010) cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra; Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đich của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”. Còn theo tác giả Đỗ Quốc Bình (2013), “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”.
Mặc dù có rất nhiều các khái niệm khác nhau nhưng trong luận văn này tác giả định nghĩa như sau: Quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 khiển, kiểm tra) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đã đề ra. Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật. – Quản lý là khoa học vì nó là lĩnh vực tri thức được hệ thống hóa và là đối tượng nghiên cứu khách quan đặc biệt. Quản lý là khoa học phân loại kiến thức, giải thích các mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý, dự báo kết quả.
– Quản lý là nghệ thuật bởi lẽ nó là hoạt động đặc biệt, trong đó quan hệ quan trọng nhất là con người, đòi hỏi phải vận dụng hết sức khéo léo, linh hoạt những kinh nghiệm đã quan sát được, những tri thức đã được đúc kết. Nghệ thuật đó thể hiện ở thái độ cư xử có văn hoá, khôn ngoan và tế nhị,trong việc vậndụng các nguyêntắc chung vào từng con người cụ thể. Nói cho cùng, nghệ thuật quản lý con người cũng là dựa trên các quy luật tâm lý học.2 Khái niệm quản lý kinh doanh nước sạch Theo từ điển Bách khoa toàn thư: Kinh doanh nước sạch là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá, gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và phương tiện mà chủ thể kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình (bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận tải, thương mại, dịch vụ ….) trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời nhiều nhất. Như vậy, Quản lý kinh doanh nước sạch là sự tác động của chủ thể quản lý một cách liên tục, có tổ chức tới đối tượng quản lý là tập thể những người lao động trong doanh nghiệp, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực và cơ hội để tiến hành hoạt động kinh doanh nước sạch đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp theo đúng pháp luật và thông lệ, trong điều kiện biến động của môi trường kinh doanh nước sạch với hiệu quả tối ưu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Khái niệm quản lý kinh doanh nước sạch Kinh doanh nước sạch là việc chủ đầu tư sử dụng các hình thức, phương tiện đầu tư cho quá trình sản xuất nước sạch cung ứng cho nhu cầu của người tiêu dùng nhằm đạt mục tiêu đề ra. Quản lý trong kinh doanh nước sạch hay quản lý trong các tổ chức nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung. Công việc quản lý bao gồm 5 nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là nhân lực, tài chính, công nghệ và thiên nhiên.
Từ những phân tích trên, luận văn quan niệm: quản lý kinh doanh nước sạch là quá trình xây dựng chiến lược kinh doanh nước sạch, các chính sách quản lý, tổ chức bộ máy thực hiện quản lý kinh doanh nước sạch, điều hành giám sát quá trình quản lý kinh doanh nước sạch, tiêu thụ sản phẩm nhằm cung cấp nước sạch cho người dân đầy đủ đồng thời đạt được các chỉ tiêu mà doanh nghiệp đề ra. * Các nguyên tắc quản lý kinh doanh nước sạch. Quản lý kinh doanh nước sạch cũng như các ngành khác là đảm bảo thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, cung cấp nước sạch đến người tiêu dùng một cách an toàn, liên tục, duy trì áp lực cấp nước, đảm bảo cung cấp đủ lượng nước theo yêu cầu, đảm bảo chất lượng nước đạt tiêu chuẩn theo quy định, làm giảm các bệnh tật qua đường nước, giảm các nguy cơ và quản lý rủi ro toàn diện từ nguồn nước qua các công đoạn thu nước, xử lý, dự trữ, phân phối đến khách hàng sử dụng nước, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ tốt hơn sức khỏe cộng đồng, phòng ngừa dịch bệnh và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Vì vậy, các doanh nghiệp kinh doanh nước sạch cấp nước cần có kế hoạch triển khai thực hiện cấp nước an toàn và hiệu quả, nhằm đảm bảo các nguyên tắc sau sau: - Quản lý kinh doanh nước sạch phải tuân thủ các quy định của pháp luật.
Trong xã hội hiện đại, hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh nước sạch ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau và trở thành mắt xích trong hệ thống chính trị - xã hội. Sự ổn định chính trị - pháp luật sẽ tạo ra môi trường thuận lợi đối với hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh nước sạch. Triệt để tuân thủ pháp luật là yêu cầu tất yếu đối với hoạt động quản lý của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh nước sạch để đảm bảo sự phát triển theo đúng khuôn khổ quy định của nhà nước. Ngoài khuôn khổ pháp lý đã được nhà nước ban hành thông qua các văn bản quy phạm pháp luật tạo thành môi trường pháp lý cho hoạt động quản lý nói chung, các doanh nghiệp kinh doanh nước sạch còn hoạt động trong môi trường xã hội với các thông lệ xã hội như các tập tục truyền thống, các hệ tư tưởng, tôn giáo, lối sống dân cư đa dạng.
Do vậy, nhà quản lý phải biết xử lý linh hoạt trước các tình huống nảy sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh nước sạch trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ các thông lệ xã hội để đảm bảo cho tổ chức tồn tại và phát triển vững chắc. - Quản lý kinh doanh nước sạch phải đảm bảo nguyên tắc hiệu quả, tiết kiệm nguồn nước thô, hạn chế tối đa lượng nước thất thoát vì nước ngọt là một tài nguyên sẵn có ở Việt Nam nhưng không phải là tài nguyên vô tận. Tỷ lệ thất thoát thất thu nước sạch tại các đô thị dưới 15%. Tiết kiệm và hiệu quả là vấn đề mang tính quy luật của mọi tổ chức kinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 tế - xã hội.
Nó bắt nguồn từ đòi hỏi của các quy luật khách quan như quy luật tăng năng suất, quy luật về sự khan hiếm các nguồn lực, quy luật cạnh tranh…, đồng thời tiết kiệm và hiệu quả cũng xuất phát từ mục tiêu quản lý là tạo ra và tăng thêm lợi ích cho con người. Tiết kiệm và hiệu quả là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý. Hoạt động quản lý chỉ đạt được mục tiêu khi chủ thể quản lý quán triệt nguyên tắc này trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình. Cần chú ý rằng, hiệu quả bao gồm cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả đòi hỏi người quản lý phải có quan điểm hiệu quả đúng đắn, biết phân tích hiệu quả trong những tình huống khác nhau, biết đặt lợi ích của tổ chức lên trên lợi ích cá nhân, từ đó đưa ra các quyết định phù hợp để đạt tới những thành quả có lợi nhất cho sự phát triển doanh nghiệp.2 Nội dung quản lý kinh doanh nước sạch của các doanh nghiệp kinh doanh nước sạch 1. Xây dựng chiến lược và chính sách kinh doanh nước sạch 1. Xây dựng chiến lược kinh doanh nước sạch * Khái niệm về chiến lược kinh doanh nước sạch: Chiến lược là một thuật ngữ dùng để chỉ các kế hoạch lớn dài hạn được đưa ra trên cơ sở tin chắc được rằng những cái gì đối phương có thể làm, những cái gì đối phương có thể không làm. Chiến lược được hiểu một cách đơn giản nhất là những kế hoạch được thiết lập hoặc những hành động được thực hiện trong nỗ lực nhằm đạt tới các mục đích của doanh nghiệp .Quinn (1980), thuộc Đại học Dartmouth: “Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các trình tự hành động một tổng thể kết dính lại với nhau”.
Khái niệm chiến lược kinh doanh nước sạch được sử dụng khá phổ biến trong các doanh nghiệp ở các nước có nền kinh tế phát triển và ngày càng tỏ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 ra có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp, nhất là trong nền kinh tế thị trường biến động phức tạp như hiện nay.