phần mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc quản lý kiểm tra đánh giá KQHT theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh các trƣờng THCS. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra đánh giá KQHT và quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá KQHT theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh tại các trƣờng THCS thành phố Nam Định – Tỉnh Nam Định. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá KQHT theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh tại các trƣờng THCS thành phố Nam Định – Tỉnh Nam Định. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KTĐG KQHT CỦA HỌC SINH THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TẠI TRƢỜNG THCS 1.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ * Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Từ khi xuất hiện nhà trƣờng, các hình thức kiểm tra đánh giá mức độ nhận thức của ngƣời học đã ra đời. Đầu thế kỷ XVI, lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục thế giới, nhà giáo dục Tiệp Khắc J.Comesnky đã đặt nền móng cho lý luận dạy học ở nhà trƣờng và xây dựng thành một hệ thống vấn đề trong tác phẩm “Lý luận dạy học vĩ đại”, trong đó nêu vai trò ý nghĩa của kiểm tra đánh giá quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, ông lƣu ý việc kiểm tra đánh giá phải căn cứ vào mục tiêu học tập và hƣớng dẫn học sinh tự kiểm tra đánh giá kiến thức của bản thân. Về sau các nhà nghiên cứu lý luận dạy học đã phân tích và phát triển lý luận kiểm tra đánh giá ở các góc độ: vai trò, ý nghĩa, mục tiêu, nội dung, nguyên tắc và phƣơng pháp nhằm đảm bảo tính khách quan của việc kiểm tra đánh giá. Bloom cùng George F.Thomas Hastings cho ra đời cuốn sách “Evaluation to improve Learning” (Đánh giá thúc đẩy học tập).
Cuốn sách này dành cho giáo viên, viết về kỹ thuật đánh giá KQHTcủa học sinh. Nếu đƣợc áp dụng đúng cách việc đánh giá sẽ giúp giáo viên hỗ trợ học sinh cải thiện khả năng học tập. Trọng tâm của cuốn sách này cũng chính là việc tăng cƣờng khả năng học tập của học sinh. Cuốn sách không nhằm giải quyết các vấn đề liên quan dến việc lựa chọn và sử dụng các loại trí tuệ, năng lực tiềm ẩn của các bài kiểm tra thành tích đã đƣợc chuẩn hóa - loại hình thƣờng đƣợc học sinh các trƣờng tiến hành một đến hai lần một năm, mà hƣớng tới để hoàn thiện và sử dụng đúng cách một hệ thống các câu hỏi, các bài kiểm tra đánh giá quá trình học tập và các dạng bài 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kiểm tra khác do giáo viên tự làm đƣợc áp dụng cho học sinh hàng năm.
Cuốn sách thông qua việc liên kết các kỹ thuật đánh giá tốt nhất, nhằm hỗ trợ các giáo viên sử dụng đánh giá nhƣ một công cụ để cải tiến cả quy trình dạy và học. Ở Liên Xô cũ và các nƣớc XHCN Đông Âu trƣớc đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu về kiểm tra đánh giá, song trên thực tế các công trình nghiên cứu chủ yếu bàn về kiểm tra đánh giá kiến thức học sinh thông qua các hình thức trắc nghiệm truyền thống nhƣ kiểm tra vấn đáp hoặc bài viết (trắc nghiệm, tự luận) chƣa quan tâm đến việc kiểm tra đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm khách quan. Vấn đề kiểm tra đánh giá KQHT đƣợc các tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhƣng tất cả đều nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của kiểm tra đánh giá kết quả học tập. Từng bƣớc xây dựng hoàn thiện cơ sở lý thuyết cơ sở thực tiễn và quy trình cho kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.
Trong thời gian gần đây, các nƣớc trên thế giới không chỉ đạt đƣợc những thành tựu mới về lý luận mà đã thành công trong việc triển khai thực tiễn ở các trƣờng học. Xu hƣớng đánh giá mới của thế giới là đánh giá dựa theo năng lực (Competence base assessment), tức là “đánh giá khả năng tiềm ẩn của HS dựa trên kết quả đầu ra cuối một giai đoạn học tập, là quá trình tìm kiếm minh chứng về việc HS đã thực hiện thành công các sản phẩm đó”. Đánh giá năng lực nhằm giúp GV có thông tin KQHT của HS để điều chỉnh hoạt động giảng dạy; giúp HS điều chỉnh hoạt động học tập; giúp GV và nhà trƣờng xác nhận, xếp hạng kết quả học tập. Nhiều quốc gia đã đẩy mạnh ĐG quá trình bằng các hình thức, phƣơng pháp đánh giá không truyền thống nhƣ quan sát, phỏng vấn, hồ sơ, dự án, trình diễn thực, nhiều ngƣời cùng tham gia.
Tóm lại, trong hơn 3 thập kỷ qua, KTĐG đối với GDPT quốc tế đã có những bƣớc tiến rất lớn cả về lý luận và thực tiễn. Thể hiện rõ xu hƣớng KTĐG của thế giới là hƣớng đến đánh giá năng lực học sinh, phƣơng pháp, cách thức đánh giá rất đa dạng, sáng tạo và linh hoạt. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Các nghiên cứu ở trong nƣớc Lịch sử khoa cử ở Việt Nam đƣợc hình thành khá sớm, các cuộc thi chọn ngƣời tài, ngƣời có học vấn đƣợc tổ chức định kỳ. Năm 1070 vua Lý Thái Tông cho lập Văn Miếu, và từ đó việc học có bài bản hơn.
Ngƣời ta xem Văn Miếu Quốc Tử Giám là trƣờng Đại học đầu tiên của Việt Nam. Khoa thi đầu tiên đƣợc tổ chức năm 1075, đời vua Lý Thái Tông. Chế độ khoa cử thời phong kiến bắt buộc sĩ tử phải trải qua ba kỳ thi để đạt học vị cao nhất: thi Hƣơng, thi Hội, thi Đình. Thi cử thời phong kiến có luật khá nghiêm ngặt, thể lệ khắt khe, bất công, nhƣng cũng đào tạo đƣợc nhiều trí thức tài giỏi, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nƣớc.
Song giáo dục Nho học không tạo điều kiện cho phát triển kinh tế. Thời kỳ Pháp thuộc, nền giáo dục Việt nam mang tính nô dịch thuộc địa với chủ trƣơng đào tạo một số ít ngƣời làm tay sai, còn đại đa số nhân dân là mù chữ. Thời kỳ này các kỳ thi tuyển đƣợc tổ chức rất nghiêm túc và đƣợc bảo đảm bằng pháp luật, trung tâm khảo thí là đơn vị độc lập với Bộ Giáo dục. Công tác kiểm tra đánh giá chất lƣợng giáo dục luôn gắn liền với mục tiêu đào tạo của thực dân phong kiến.
Từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay, giáo dục Việt nam đã trải qua ba lần cải cách, mỗi lần mục tiêu giáo dục đào tạo đƣợc điều chỉnh cho phù hợp với tình hình đất nƣớc. Kế thừa những thành tựu về kiểm tra đánh giá tri thức học sinh của một số nƣớc trên thế giới, ở nƣớc ta đã có một số công trình nghiên cứu và nhiều bài viết của các tác giả tiêu biểu đƣợc đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, các kỷ yếu khoa học trong các cuộc hội thảo cấp quốc gia bàn về kiểm tra đánh giá bàn về kiểm tra đánh giá chất lƣợng học tập của học sinh. Một số tài liệu nghiên cứu về kiểm tra đánh giá trong lĩnh vực giáo dục của các chuyên gia nhƣ: + Trần Thị Tuyết Oanh, Đo lường và đánh giá kết quả học tập, NXB Đại học sƣ phạm Hà Nội, 2007 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Dƣơng Thiệu Tống, Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, NXB khoa học xã hội, 2005. + Lục Thị Nga và Nguyễn Tuyết Nga, Hiệu trưởng trường THCS với vấn đề đổi mới đánh giá KQHTcủa học sinh, Nhà xuất bản Đại học sƣ phạm, 2011.
Các đề tài thạc sĩ nhƣ: Nghiên cứu cải tiến quy trình tổ chức kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên tại khoa du lịch – viện đại học mở Hà Nội của tác giả Lê Quỳnh Chi, năm 2006; Biện pháp quản lý công tác kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở trƣờng Cao đẳng du lịch Hà Nội của tác giả Nghiêm Nữ Diễm Thùy, năm 2008; Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các trƣờng trung học phổ thông thành phố Việt Trì tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn hiện nay của tác giả Tạ Thị Bích Liên, năm 2011. Các nhà khoa học đều khẳng định kiểm tra, đánh giá HS là những khâu rất quan trọng trong quá trình dạy và học. Khoa học về KTĐG của thế giới đã có bƣớc phát triển mạnh mẽ cả về lý luận và thực tiễn, trong khi ở Việt Nam ngành GD chỉ mới quan tâm trong những năm gần đây. Cùng với sự phát triển kinh tế, sự thay đổi của xã hội, đòi hỏi giáo dục phải có sự thay đổi.
Đổi mới KTĐG theo hƣớng tiếp cận năng lực là một yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lƣợng GD nói chung và đáp ứng yêu cầu đổi mới chƣơng trình GDPT sau năm 2015. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Quản lý, quản lý giáo dục * Quản lý Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học xã hội, đồng thời quản lý còn là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế để đạt đƣợc mục đích. Chính vì vậy ngƣời ta có thể tiếp nhận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau.Mác, quản lý là chức năng đƣợc sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động.
Nó có tầm quan trọng đặc 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con ngƣời và thông qua quản lý. Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên khá phổ biến nhƣng có nhiều điểm khác nhau với những góc độ khác nhau phụ thuộc vào cái nhìn chủ quan và tính mục đích hoạt động. Chúng ta có thể điểm qua một số khái niệm. Theo nhà khoa học ngƣời Mỹ Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915), ngƣời đƣợc hậu thế coi là "cha đẻ của thuyết quản lý khoa học".
Là ngƣời rất thành công trong quản lý sản xuất, ông đã thể hiện tƣ tƣởng cốt lõi của mình trong quản lý là: “Quản lý là khoa học đồng thời là một nghệ thuật thúc đẩy xã hội phát triển”. Ông cho rằng "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.