CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG “XÂY DỰNG TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN, HỌC SINH TÍCH CỰC” Ở CÁC TRƯỜNG TTRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Liên quan đến đề tài này, từ trước tới nay đã có những công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đề cập đến trên những khía cạnh khác nhau. Những kết quả nghiên cứu đó được chúng tôi kế thừa trong việc giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra. Các nghiên cứu ở nước ngoài THTT là yếu tố hàng đầu cho sự phát triển toàn diện của trẻ em.
Yếu tố đảm bảo cho việc thực hiện thành công ngôi trường thân thiện cho trẻ chính là cộng đồng xã hội, gia đình và nhà trường. Trong đó, nhà trường cũng đóng một vai trò rất quan trọng. Bởi vì nhà trường là nơi gắn liền với mọi hoạt động học tập vui chơi và rèn luyện nhân cách của trẻ. Trên thế giới, ngay từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, tổ chức UNESCO nêu lên 4 trụ cột của cải cách giáo dục đã đặc biệt nhấn mạnh: thời đại mới đòi hỏi con người phải có cách nhìn mới, cách nghĩ mới và những kiến thức, kỹ năng mới của chính thời đại mình.
Nói cụ thể hơn, con người mới đó phải có khả năng tư duy độc lập, có phương pháp tư duy hệ thống và cách nhìn toàn thể; có năng lực sáng tạo và tinh thần đổi mới; có khả năng thích ứng với sự thay đổi thường xuyên, đa dạng, phức tạp, đầy biến động bất ngờ và bất định; có năng lực hành động hiệu quả và tinh thần hợp tác trong một môi trường đa văn hóa của một thế giới toàn cầu hóa. Để làm được điều đó, vai trò của công tác xây dựng THTT , HSTC trở nên quan trọng giúp cho nền giáo dục của kỷ nguyên thông tin trở thành một nền giáo dục cho mọi người. THTT sẽ tạo điều kiện để mọi người được học, giúp cho mọi người biết cách học, biết cách 7 tự học, học tập liên tục và học tập suốt đời. Liên quan đến vấn đề xây dựng THTT, HSTC, nhiều nước trên thế giới quan niệm khác nhau, nhưng có điểm chung là coi THTT, HSTC là một trong những mô hình trường học tiên tiến, chứ không chỉ là một phong trào.
Tuy nhiên, đặc điểm của mô hình trường học tiên tiến như thế nào, nhiều nước cũng quan niệm không giống nhau. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, ở Phần Lan, giáo dục xem công bằng là một trong những điều quan trọng nhất. Ông Olli Luukkainen, chủ tịch hội đồng giáo viên Phần Lan chia sẻ “Tất cả trẻ em ở Phần Lan dù thành thị hay nông thôn đều được hưởng một nền giáo dục như nhau.” Thực hiện tiêu chí công bằng này, giáo dục Phần Lan không phân biệt giàu hay nghèo, thành thị hay nông thôn, tất cả đều được hưởng một nền giáo dục như nhau. Giáo dục ở Phần Lan hướng đến các học sinh yếu kém, giúp nhà trường trở thành môi trường thân thiện.
GS Pasi Sahlberg, công tác tại Bộ Giáo dục và Văn hóa Phần Lan phát biểu: “Chúng tôi dạy trẻ học cách học, chứ không dạy trẻ học cách để thi. Trường học của chúng tôi là nơi học tập vui thích 100%”. Ở Mỹ: Nền giáo dục Mỹ hướng con người đến tự do, có thể dễ dàng thích nghi với cuộc sống đang biến động hàng ngày, nếu bó buộc học sinh sẽ làm mất tính sáng tạo của trẻ. Các chương trình học tại các trường ở Mỹ rất giàu tính trải nghiệm, kích thích sự phát hiện, khuyến khích trẻ đưa ra tất cả suy nghĩ “xung quanh một câu hỏi”.
Tự do của người Mỹ là tự do về tư tưởng, giữ quan điểm của mình đồng thời tôn trọng quan điểm ý kiến của người khác. Ở Đức: Một trong những đặc tính của giáo dục Đức đó là tính bình đẳng giữa các học sinh, THTT là tạo lập môi trường bình đẳng. Giáo dục Đức cho rằng, HSTC không phải trói buộc những đứa trẻ trong lớp học mà thiếu tính trải nghiệm thực tế sẽ dẫn đến những sản phẩm bị lỗi thời về mặt nội dung. 8 Ở Nhật Bản: Tư tưởng của người Nhật vẫn còn mang đậm dấu ấn văn hóa truyền thống của dân tộc mình, đạo đức là cốt lõi là điều mà một học sinh phải biết đến đầu tiên.
Giáo dục Nhật Bản vận hành theo nguyên lý: “mỗi người học sẽ trở thành một cá nhân hoàn thiện đạo đức”. Chuyên gia giáo dục Bassey Ubong của Nigeria khi nghiên cứu giáo dục Nhật Bản đã phát biểu rằng “Đạo đức còn có nghĩa là ý thức tuân thủ kỷ luật cao độ được phản ánh thông qua quan niệm xem giáo dục là một con đường dẫn đến cuộc sống tốt đẹp hơn. Từ đó thanh niên tích cực học tập, tuân theo các chuẩn mực về tôn trọng mọi người xung quanh và tham gia đóng góp nhằm giảm thiểu tỉ lệ thất nghiệp, ai nấy đều tốt nghiệp và có việc làm”. Giáo dục Nhật Bạn cũng hướng đến tính tự lập cho học sinh, mỗi học sinh có thể tự chủ trong học tập, không ỷ lại để có thể hòa nhập môi trường hội nhập đầy biến động các giá trị văn hóa và tri thức.
Để trang bị tính tự lập cho học sinh, giáo dục Nhật Bản nhấn mạnh “học sinh là trung tâm”, giúp học sinh trải nghiệm kiến thức từ thực tế chứ không phải là nhồi nhét kiến thức. Các nghiên cứu ở trong nước Xây dựng THTT góp phần xây dựng một nền giáo dục mở và liên thông, có khả năng hội nhập với nền giáo dục chung của thế giới. Với phương châm giáo dục là quốc sách hàng đầu, hiện nay Việt Nam đang bước vào giai đoạn hoàn thành chương trình phổ cập tiểu học, trung học. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn phải đối mặt với những thách thức trong lĩnh vực giáo dục, vẫn còn tình trạng bạo lực học đường.
Hơn thế nữa, chất lượng giáo dục ở các trường học còn một vài hạn chế. Bằng sự quyết tâm của mình, chính phủ Việt Nam cam kết đảm bảo cho tất cả trẻ các em ở lứa tuổi vị thành niên đều có cơ hội học hành và phát triển đầy đủ tiềm năng của mình. Trong Chiến lược Phát triển giáo dục 2010 - 2020, Chính phủ phấn đấu đề ra các chính sách và biện pháp nhằm duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục THCS vào năm 2020 và đạt tỷ lệ đi nhà trẻ, mẫu giáo là 95%. 9 Từ đó, những vấn đề lý thuyết có liên quan đến THTT đã được đề cập đến từ những năm 1992 – 1993.
Giáo sư Hồ Ngọc Đại – người rất tâm huyết với việc xây dựng trường thực nghiệm, một ngôi trường có đầy đủ trang thiết bị dạy học và PPGD tích cực đã nói rằng: "Trung tâm đã nghiên cứu một mô hình nhà trường mới theo khả năng phát triển tối ưu của trẻ em Việt Nam bằng giáo dục thực nghiệm" [8]. Trong bài viết Vài ý kiến về mô hình “THTT” của Thạc sĩ Trần Mạnh Trung đăng trên tạp chí Giáo dục số 220, kỳ 2 tháng 8/2009 đã nêu ra bốn nội dung quan trọng để xây dựng một “THTT” có đủ những đặc điểm do UNICEF đưa ra như sau: Nội dung 1: Môi trường học tập thân thiện; Nội dung 2: Phương pháp dạy học thân thiện; Nội dung 3: Phương pháp kiểm tra, đánh giá thân thiện; Nội dung 4: Các mối quan hệ thân thiện. Bài viết đề cập đến sự cần thiết của việc trang bị CSVC, trang bị đầy đủ những phương tiện dạy học hiện đại phù hợp cho việc tổ chức mọi hoạt động học tập của HS, sự cần thiết về vai trò và tâm huyết của người thầy trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá thân thiện hơn nhằm phát huy tính tích cực năng động sáng tạo của HS và cuối cùng là tạo mối quan hệ thầy trò, bạn bè gần gũi hơn dễ dàng thông cảm, hiểu và trân trọng nhau hơn. Có như thế HS mới cảm thấy gắn bó, yêu thương ngôi trường của mình [38].
Trên Webside của Viện Khoa học Công nghệ và phát triển Á Châu có bài viết Mô hình nào cho trường học tương lai.TS Trần Kiều cho rằng “…trong tương lai gần, cần và có thể cải tiến mô hình trường phổ thông Việt Nam hiện nay tập trung vào những phẩm chất và năng lực cần thiết của con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa…”. Cần có các hình thức tổ chức dạy học linh hoạt, phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học trên cơ sở đảm bảo dân chủ trong trường học… “và phải có một đội ngũ GV nắm vững chức năng giáo dục, có bản lĩnh để đáp ứng các yêu cầu thay đổi một cách đa dạng của giáo dục phổ thông, có một môi trường giáo 10 dục thân thiện và những người làm giáo dục phải hiểu được thế hệ trẻ và đặt đúng vai trò chủ thể của họ trong hoạt động của nhà trường…”. Từ đó, “kỹ nãng ứng xử giao tiếp, tinh thần đoàn kết thân ái, tôn trọng và bảo vệ được nâng cao hơn”. Những năm gần đây, sau khi Bộ GD&ĐT phát động phong trào xây dựng THTT, HSTC, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã xuất bản cuốn sách: Góp phần xây dựng THTT, HSTC.
Cuốn sách gồm hai phần: Phần I: Trình bày những giải pháp xây dựng THTT, HSTC. Bên cạnh các bài viết có tính chất lí luận về mô hình THTT, HSTC là các bài viết giàu tính chất thực tiễn, phản ánh khá sinh động thực tế giáo dục phổ thông ở các vùng miền của tổ quốc. Từ việc xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn; đổi mới dạy - học sao cho có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của HS; rèn luyện kĩ năng sống đến việc tổ chức cho HS các hoạt động tập thể vui chơi lành mạnh; tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương. Phần II: Giới thiệu gương sáng học đường - những người tốt, việc tốt.
Ở phần này, có rất nhiều câu chuyện cảm động về tấm gương vượt khó của nhiều cô giáo, thầy giáo, nhiều em HS và nhiều cơ sở giáo dục…Nội dung chính của cuốn sách giúp các nhà quản lí tiếp cận một số biện pháp xây dựng THTT và làm gì để duy trì, quản lí THTT có hiệu quả [15].