mở đầu, 3 chương, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ NGHIÊN CỨU CỦA HỌC VIÊN Ở TRƢỜNG CHÍNH TRỊ 1. Một số nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Tác giả N.Rubakin đã nhấn mạnh: giáo dục động cơ học tập đúng đắn là điều kiện cơ bản để học sinh tích cực, chủ động trong tự nghiên cứu, đã nghiên cứu đưa ra những kỹ năng tự nghiên cứu cần thiết nhằm đảm bảo cho người học đạt kết quả cao.
Trong số các kỹ năng tự nghiên cứu, các tác giả đặc biệt nhấn mạnh vai trò và ý nghĩa của kỹ năng đọc sách, kỹ năng này được đánh giá là quan trọng nhất trong hoạt động tự nghiên cứu [14]. Một tác giả khác là Raja Roy Singh cũng xuất phát từ các hướng trên đã đưa ra những nghiên cứu về vai trò của năng lực tự nghiên cứu trong việc học tập thường xuyên và học tập suốt đời, ông đề cao vai trò là chuyên gia cố vấn của người thầy trong việc học tập thường xuyên, học tập suốt đời, trong việc hình thành phát triển năng lực tự nghiên cứu của người học [16]. Như vậy, qua nghiên cứu tiêu biểu của các nhà giáo dục thế giới về tự nghiên cứu chúng tôi nhận thấy: Tự nghiên cứu có một ý nghĩa vô cùng cần thiết, ảnh hưởng to lớn và trực tiếp tới việc học của người học trong quá trình dạy học, đặc biệt tự nghiên cứu là yếu tố quyết định cho xu hướng học tập suốt đời của mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại. Với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ thì việc đưa những ứng dụng của khoa học công nghệ vào tổ chức tự nghiên cứu được coi là một hướng đi hợp lý và ý nghĩa như hiện nay.
Các nghiên cứu về tự nghiên cứu và tổ chức tự nghiên cứu ở Việt Nam * Nghiên cứu về tự nghiên cứu trong hoạt động dạy học Từ thập kỷ 70 trở lại đây, trong các giáo trình, tài liệu về lý luận dạy học đại học và giáo dục học đã viết về tự nghiên cứu với tư cách là một hình thức tổ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ chức dạy học ở đại học, nhằm bồi dưỡng lý luận cơ bản về tự nghiên cứu cho người học, giúp sinh viên vận dụng có hiệu quả vào hoạt động học tập của mình. Ngoài ra, có nhiều bài báo khoa học của các nhà giáo, nhà quản lý giáo dục, nhà khoa học viết về vấn đề tự nghiên cứu của người học được đăng tải chủ yếu ở các tạp chí giáo dục. Tự nghiên cứu phải có cơ sở khoa học mà then chốt là có phương pháp tự nghiên cứu sáng tạo và chỉ dẫn, phổ biến nó cho nhiều người áp dụng. Từ đòi hỏi này của thực tiễn, Trung tâm Nghiên cứu phát triển tự nghiên cứu ra đời (1998) [22] với mục tiêu đúng như tên gọi của nó và cho ra mắt tạp chí "Tự nghiên cứu" từ năm 1999.
Tạp chí "Tự nghiên cứu" là nơi công bố các kết quả nghiên cứu, là diễn đàn trao đổi phổ biến kinh nghiệm tự nghiên cứu. Hồ Chí Minh - một tấm gương sáng, điển hình về việc tự nghiên cứu. Khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Hồ Chí Minh chỉ ra “Lấy tự nghiên cứu làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào” [12].
Lời dạy này của Bác có hàm ý phải: kết hợp chặt chẽ nội lực - môi trường - và sự quản lý. Người đề cao tinh thần học tập chủ động là nhu cầu nội sinh của người học "Phải biết tự động học tập" [12]. Đồng thời, người học phải có cách học phù hợp mới mang lại kết quả "Muốn học tập có kết quả tốt thì phải có thái độ đúng và phương pháp đúng" [13]. Bằng trải nghiệm tự nghiên cứu bền bỉ nghiêm túc hiệu quả của mình, Hồ Chí Minh đã đặt ra vấn đề chỉ dẫn tự nghiên cứu cho người học làm cơ sở cho họ tự lực hình thành phương pháp tự nghiên cứu phù hợp với riêng mình, Người cho rằng: "Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự nghiên cứu", đó là tư tưởng về dạy cách học.
Hiện nay, nhiều nghiên cứu về lý luận dạy học đã coi những tư tưởng về dạy cách học của Hồ Chí Minh là cơ sở phương pháp luận cho việc chỉ đạo dạy học. * Nghiên cứu về tự nghiên cứu của học viên: GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn [22] bằng kinh nghiệm của bản thân và những kết quả nghiên cứu của mình, tác giả đã phát hiện nhiều vấn đề tự nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ đáng để chúng ta quan tâm, các dạng của tự nghiên cứu như tự nghiên cứu không có thầy, hoặc có thầy nhưng không giáp mặt thầy - “tự nghiên cứu có hướng dẫn qua tài liệu in”; các điều kiện để tự nghiên cứu có hướng dẫn thành công và những khó khăn, trở ngại khi tự nghiên cứu có hướng dẫn và biện pháp khắc phục. Tác giả Trịnh Quang Từ [23] coi tự nghiên cứu là hoạt động tích cực, chủ động, tự giác của người học dưới vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển của người thầy. * Nghiên cứu kỹ năng tự nghiên cứu của học viên Các tác giả Hà Thị Đức [9], Phạm Minh Hạc [8] công bố trong công trình nghiên cứu của mình.
Các tác giả đã phân tích các kỹ năng tự nghiên cứu như kỹ năng lập kế hoạch tự nghiên cứu, ghi chép, nghe giảng, đọc sách và ghi chép khi đọc sách, kỹ năng thảo luận nhóm nhỏ. Song các kỹ năng tự nghiên cứu chưa được nghiên cứu đầy đủ, cụ thể và hệ thống ở từng giai đoạn. Vì thế, chưa chỉ ra cách triển khai hoạt động dạy học ở trên lớp nhằm thúc đẩy hoạt động tự nghiên cứu và hoàn thiện các kỹ năng tương ứng. Tóm lại, từ nghiên cứu các công trình ở trên, có thể rút ra một số nhận xét sau: - Thứ nhất, về vấn đề tự nghiên cứu đã có những công trình chuyên khảo, đề tài nghiên cứu với các khía cạnh khác nhau như: học tập - tự nghiên cứu như thế nào, phương thức học, các phương pháp tự nghiên cứu cụ thể và những ý tưởng về bồi dưỡng phương pháp tự nghiên cứu như: cách dạy hướng vào người học, hướng dẫn quá trình học tập, hướng dẫn cách học, học tập phương pháp.
Nhưng làm thế nào (con đường, biện pháp) để bồi dưỡng được phương pháp tự nghiên cứu, xây dựng được ý thức tự nghiên cứu cho người học, vấn đề đó được viết thành lý luận để định hướng cho việc thực hiện xây dựng, nâng cao ý thức tự nghiên cứu thì chưa được các tác giả quan tâm nghiên cứu nhiều, trong khi đó thực tiễn lại đang cần những nghiên cứu như vậy. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ - Thứ hai, người học muốn tự nghiên cứu tốt phải có mục đích, động cơ học tập đúng. Từ đó họ nảy sinh lòng ham học, tính tự giác tích cực, tự lực say mê tìm tòi nghiên cứu, là động lực bên trong của sự tự nghiên cứu. Không có hoặc thiếu mục đích, động cơ tự nghiên cứu mạnh mẽ thì người học không thể có hoạt động tự nghiên cứu đích thực.
Tự nghiên cứu là quá trình phát triển nội tại và tự thể hiện, tự biến đổi mình. Người học phải biết cách học, tự mình tìm lấy kiến thức theo cách của mình và biết tự kiểm tra điều chỉnh việc học của mình. Nói cách khác, muốn tự nghiên cứu tốt thì phải có ý thức tự nghiên cứu tốt. Vậy, trong dạy phải tìm cách bồi dưỡng, nâng cao ý thức tự nghiên cứu cho học viên.
Vấn đề bồi dưỡng, nâng cao ý thức tự nghiên cứu của học viên đòi hỏi phải trở thành một tư tưởng sư phạm rõ ràng nhất quán, một mục tiêu và nhiệm vụ dạy học cần đạt tới chứ không phải chỉ là biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học ở nhà trường. Do đó, vấn đề này cần được nghiên cứu sâu rộng hơn. Như vậy, vấn đề tự nghiên cứu nói chung và tự nghiên cứu của sinh viên đại học và học viên nói riêng đã và đang được nhiều tác giả bàn đến. Các tác giả đã đưa đến cho mỗi người dạy, người học những hiểu biết chung về tự nghiên cứu và ý nghĩa tự nghiên cứu; những gợi ý cho cách thức dạy học phát huy năng lực tự nghiên cứu cho người học cũng như việc sử dụng phương pháp dạy học sao cho phát huy được khả năng tự nghiên cứu cho sinh viên, học viên.
Tuy nhiên, trên cơ sở lý luận của vấn đề tự nghiên cứu, của sinh viên dại học cũng như một số vấn đề cụ thể về phương pháp tự nghiên cứu cách thức tổ chức hoạt động tự nghiên cứu trong từng bộ môn cần được tiếp tục nghiên cứu rộng rãi và có hiệu quả hơn nữa. Một số khái niệm công cụ liên quan tới vấn đề nghiên cứu 1. Tự nghiên cứu Theo Đại từ điển tiếng Việt (1998), “Tự”: từ biểu thị hoạt động do chủ thể tiến hành không nhờ đến kẻ khác hoặc ý nghĩa phản thân: tự giác, tự lực [3]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Theo giáo trình lý luận dạy học đại học định nghĩa: “Tự nghiên cứu là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học.
Đó là một hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã qui định” [9]. Tùy thuộc vào trình độ nhận thức và đặc điểm học tập của người học, người ta có thể dùng các cụm từ "Tự học" hoặc "Tự nghiên cứu" cho phù hợp. Chẳng hạn, đối với học trong nhà trường phổ thông người ta thường dùng cụm từ "Tự học" còn đối với sinh viên các trường đại học, trung tâm đào tạo người ta dùng cụm từ "Tự nghiên cứu". Vì thế khi đề cập đến hoạt động tự nghiên cứu của học viên ở các trường chính trị, trung tâm bồi dưỡng chính trị cũng chính là đề cập tới hoạt động tự học.
Tự nghiên cứu là hoạt động tổ chức nhận thức độc lập của từng người học, tự phát huy năng lực cá nhân để thực hiện các nhiệm vụ tự nghiên cứu xác định. Tự nghiên cứu là “tự động học tập”, thể hiện tính tự lực, tự giác, tích cực cao trong quá trình lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kỹ năng.