Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý HĐTN cho học sinh ở trường tiểu học theo Chương trình GDPT 2018. Chương 2: Thực trạng quản lý HĐTN cho học sinh ở một số trường tiểu học huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo Chương trình GDPT 2018. Chương 3: Biện pháp quản lý HĐTN cho học sinh ở một số trường tiểu học huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo Chương trình GDPT 2018. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu trên thế giới HĐTN là các hoạt động giáo dục, dưới sự hướng dẫn của nhà giáo dục, mỗi học sinh trực tiếp tham gia vào các hoạt động khác nhau của đời sống nhà trường và xã hội với tư cách là chủ thể của hoạt động. Trên thế giới, tổ chức và quản lý HĐTN là một chủ đề nghiên cứu lớn được nhiều tác giả quan tâm, thể hiện qua ba hướng nghiên cứu chính như sau. Hướng nghiên cứu phổ biến nhất là tìm hiểu mối quan hệ giữa việc tham gia HĐTN với thành tích học tập của học sinh nói riêng và sự phát triển của trẻ em nói chung.
Trong hướng này, nổi bật nhất là nghiên cứu của Shulruf (2011) sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp (meta-analysis) 29 nghiên cứu tác động của việc tham gia các hoạt động ngoại khoá và trải nghiệm như nghệ thuật, thể thao, phát triển năng lực lãnh đạo tới kết quả học tập của học sinh. Nghiên cứu kết luận do những hạn chế về phương pháp nghiên cứu nên chưa thể khẳng định chắc chắn mối quan hệ nhân quả giữa việc tham gia các HĐTN với cải thiện kết quả học tập của học sinh [44]. Cũng trong hướng này, một nghiên cứu nổi bật khác là tổng quan của Seow và Pan (2014) với đề xuất 3 khung lý thuyết để giải thích cho tác động của tham gia HĐTN tới thành tích học tập của học sinh, bao gồm lý thuyết zero - tổng, lý thuyết phát triển, và lý thuyết ngưỡng [43]. Nghiên cứu của Metsäpelto và cộng sự (2014) tìm hiểu những tác động của hoạt động ngoại khoá tới hành vi xã hội - cảm xúc và thành tích học tập ở trường của trẻ trong giai đoạn giữa của tuổi thơ (khoảng 7-12 tuổi).
Với việc sử dụng lý thuyết hệ thống sinh thái và tiếp cận phát triển trẻ thơ tích cực, nhóm tác giả khẳng định vai trò quan trọng của việc tham gia các hoạt động ngoại khoá của trẻ thơ là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của trẻ. Trong suốt 10 năm qua, hướng nghiên cứu này vẫn tiếp tục được phát triển bởi nhiều tác giả trong các bối cảnh khác nhau như Craft (2012) nghiên cứu trong các trường học ở Hoa Kỳ [38]; Kariyana, Maphosa, & Mapuranga (2012) 8 nghiên cứu trong các trường học ở tỉnh Eastern Cape, Nam Phi [42]; Annu & Sunita (2015) nghiên cứu trong các trường học ở tỉnh Uttar Pradesh ở Ấn Độ [37]; Zhang & Tang (2017) nghiên cứu trong các trường trung học ở Trung Quốc [40]; hay Suleiman, Hanafi, & Tanslikhan (2019) nghiên cứu trong các trường trung học ở tỉnh Kwara, Indonesia [45]. Nghiên cứu gần đây của Abizada và cộng sự (2020) đánh giá tác động của việc tham gia các HĐTN như thể thao, mĩ thuật, câu lạc bộ tới kết quả điểm thi quốc gia môn Ngữ văn và Toán học ở Azerbaijan và rút ra kết luận trong khi một số hoạt động ngoại khoá có tác động tích cực tới điểm thi thì cũng có những hoạt động ngoại khoá không đem lại tác động cụ thể [36]. Ở bối cảnh tương tự như Việt Nam, nghiên cứu mới nhất của Tan, Cai, & Bodovski (2021) sử dụng dữ liệu qua nhiều năm của Khảo sát chuyên đề giáo dục Trung Quốc và nhận thấy những học sinh có thành tích giáo dục tốt có xu hướng thích tham gia HĐTN và ngoại khoá nhiều hơn những học sinh có thành tích thấp hơn.
Khi tham gia các HĐTN, các mối quan hệ xã hội bao gồm bạn bè tương trợ nhau và lời động viên của giáo viên là những yếu tố có tác động tích cực tới thành tích học tập của học sinh. Tuy nhiên, nghiên cứu rút ra kết luận quan trọng rằng việc tham gia các HĐTN và ngoại khoá không có tác động trực tiếp tới kết quả học tập của học sinh trong bối cảnh các kì thi cạnh tranh cao như ở Trung Quốc. Vì vậy, việc tham gia các HĐTN đối với học sinh chỉ là một cách để tích luỹ vốn văn hoá, giúp tạo điều kiện thuận lợi hơn cho thành công trong tương lai. Ngoài hướng nghiên cứu chính kể trên, một số tác giả tập trung vào hướng nghiên cứu thứ hai là xác định những yếu tố ảnh hưởng tới việc tham gia HĐTN của học sinh.
Trong hướng này, nghiên cứu lâu đời và được trích dẫn nhiều nhất là của nhóm tác giả Holland & Andre (1987). Nghiên cứu khảo sát 5 nhóm lĩnh vực gồm các đặc điểm cá nhân - xã hội của học sinh, thành tích học tập, kỳ vọng học tập và kết quả, vai trò tham gia trong các hoạt động, và bối cảnh môi trường và xã hội. Hướng nghiên cứu thứ ba là tìm hiểu những chiến lược, biện pháp giúp nâng cao hiệu quả HĐTN cho học sinh tiểu học. Nổi bật là nghiên cứu của Papak và cộng sự (2011) về thúc đẩy học tập tích cực của học sinh khi tham gia HĐTN thông qua các chiến lược hiện đại.
Nghiên cứu gần đây của Ng (2021) cho thấy trong bối cảnh dịch COVID-19 ở Hồng Kông, các 9 trường học đã có những chiến lược khác nhau để triển khai các HĐTN sang hình thức trực tuyến qua các nền tảng mạng xã hội. Nghiên cứu rút ra kết luận, khi thay đổi hình thức tổ chức HĐTN từ trực tiếp sang trực tuyến, giáo viên có vai trò quan trọng nhất trong việc thiết kế hoạt động hợp tác giúp tăng cường kết nối xã hội cho học sinh. Tóm lại, các nghiên cứu quốc tế hiện nay tập trung tìm hiểu về tác động của tham gia HĐTN tới kết quả giáo dục của học sinh, những yếu tố ảnh hưởng tới sự tham gia HĐTN của học sinh, cũng như đề xuất các biện pháp cải tiến hoạt động này. Theo đó, vấn đề quản lý HĐTN trong trường tiểu học học chưa được đề cập nhiều nên rất cần được nghiên cứu, tìm hiểu sâu hơn nữa trong các bối cảnh đa dạng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam.
Các nghiên cứu ở Việt Nam 1. Từ năm 2018 trở về trước Tổ chức và quản lý các HĐTN là vấn đề thực tiễn sinh động và cũng là chủ đề nghiên cứu nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học trong nước từ lâu. Trước 2018 đã có nhiều nghiên cứu về chủ đề này, phân thành nhiều nhánh nhỏ như hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, HĐTN sáng tạo, hoạt động giáo dục kỹ năng sống. Trong hướng nghiên cứu về tổ chức các hoạt động giáo dục, đáng chú ý là nghiên cứu của tác giả Trần Thị Minh Hằng (2016) với đề tài “Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học Việt Nam giai đoạn hiện nay”.
Tác giả đã nhấn mạnh phương pháp giáo dục kỹ năng sống thông qua HĐTN sáng tạo cũng như vẽ một bức tranh tổng thể về tình hình giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học ở Việt Nam [29]. Nghiên cứu “Giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm trong dạy học môn khoa học ở tiểu học” của tác giả Võ Trung Minh (2015) đã đề xuất nội dung và quy trình giáo dục môi trường dựa vào trải nghiệm trong dạy học môn Khoa học cho học sinh tiểu học nhằm góp phần nâng cao kết quả giáo dục môi trường trong trường tiểu học. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đưa ra được các biện pháp giáo dục môi trường đối với các cấp quản lý, giáo viên và lực lượng xã hội khác [26]. Trong hướng nghiên cứu quản lý HĐTN, đáng chú ý là nghiên cứu của tác giả Bùi Tố Nhân (2015) đã đề xuất một số biện pháp quản lý HĐTN sáng tạo tại các trường THCS thuộc quận Lê Chân thành phố Hải Phòng nhằm nâng cao 10 chất lượng hoạt động giáo dục thông qua trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường đáp ứng yêu cầu phát triển năng lực cho học sinh [27].
Trong nghiên cứu “Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống của học sinh trung học dưới nền tảng đổi mới giáo dục”, tác giả Phạm Thị Nga (2016) đã đề xuất các chức năng đo lường toàn diện của quản lý, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra trong mọi hoạt động các nhà trường (trong giờ học, ngoài giờ học, vui chơi, giải trí, tổ chức bằng các phương pháp và hình thức khác nhau…), đồng thời huy động các lực lượng khác tham gia với tư cách là chủ thể chung [20]. Ngoài ra, nghiên cứu của tác giả Hoàng Thuý Nga (2016) cũng đã hệ thống hoá, làm rõ cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học và thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học thành phố Hà Nội. Từ năm 2018 đến nay Từ năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình GDPT tổng thể, trong đó HĐTN và HĐTN, hướng nghiệp trở thành hoạt động giáo dục bắt buộc thực hiện xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12. Từ đó, số lượng các đề tài nghiên cứu về chủ đề tổ chức và quản lý HĐTN ngày càng đa dạng.
Trong hướng nghiên cứu tổ chức HĐTN, hướng nghiệp cho học sinh, đáng chú ý là nghiên cứu của nhóm tác giả Hoàng Công Kiên và cộng sự (2020) về thiết kế HĐTN chủ đề “Sáng tạo nghệ thuật” cho học sinh trung học cơ sở trong chương trình trải nghiệm hướng nghiệp. Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn của HĐTN, nhóm tác giả đã xây dựng chủ đề “Sáng tạo nghệ thuật” giúp giáo viên tổ chức HĐTN cho học sinh 4 lớp (6, 7, 8, 9). Phần thực nghiệm đã được thực nghiệm trên các khối lớp 6, 7, 8, 9 ở các địa bàn khác nhau (miền núi, trung du, thành phố). Kết quả bước đầu khẳng định mức độ phù hợp của chuỗi các hoạt động trong chủ đề “Sáng tạo nghệ thuật”, hướng tới phát triển năng lực học sinh theo quy định trong chương trình cấp học THCS [12].