Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý của các biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo văn bằng 2 hệ đại học. Thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo văn bằng 2 hệ đại học ở Trường Cán bộ Thanh tra thuộc Thanh tra Chính phủ. Biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo văn bằng 2 hệ đại học ở Trường Cán bộ Thanh tra thuộc Thanh tra Chính phủ.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT ĐÀO TẠO VĂN BẰNG 2 HỆ ĐẠI HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trước những năm 60 giáo dục nhà trường chiếm vị trí độc tôn trong toàn bô ̣ sự nghiệp giáo dục của mọi quốc gia, vì vậy khi nói tới giáo dục là người ta chỉ nghĩ đến giáo dục chính quy trong nhà trường. Cùng với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại và có những bước nhảy vọt của nền kinh tế thế giới trong 3-4 thập niên gầ n đây, nền giáo dục ở nhiều quốc gia đứng trước những thách thức và áp lực to lớn: - Thứ nhất là do thiế u nguồn nhân lực có trình độ cao để tạo nên sự cất cánh cho nền kinh tế, trong khi khoa học – công nghệ đang đóng vai trò ngày càng gia tăng trong nề n sản xuấ t hiê ̣n đa ̣i. - Thứ hai là nhu cầu học tập của mọi tầng lớp nhân dân ngày càng tăng cũng tạo nên mô ̣t áp lực ma ̣nh mẽ.
Khi nề n kinh tế phát triển, mức sống được nâng cao, thì nhu cầu học tập để mở rộng hiểu biết của người dân ngày càng tăng. Trong thời đại ngày nay kiến thức của nhân loại thay đổi từng ngày và cơ hội tìm kiếm việc làm, cơ hội mưu sinh không tánh rời cơ hội đươ ̣c đào ta ̣o để nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp để có thể chuyển đổi công việc khi cần thiết. Hiện nay luâ ̣n điể m “giáo dục cho mọi người – mọi người cho giáo dục” và “học suốt đời” với 4 trụ cột giáo dục “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người” đang thực sự trở thành kim chỉ nam cho hoạt động giáo dục, đào tạo của nhiề u nước trên thế giới trong đó có Việt Nam. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để đáp ứng nhu cầu học tập của mọi côn g dân, nhà nước ta đã cho mở rộng các phương thức đào tạo chính quy và không chiń h quy, trong đó có hin ̀ h thức tổ chức liên kết đào tạo giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo với nhau đang rấ t phát triể n.
Vấn đề đa da ̣ng hoá phương thức đào tạo đã được các nhà khoa học, các nhà quản lý ở các trường đại học, các viện nghiên cứu giáo dục chú ý quan tâm. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về liñ h vực chiế n lươ ̣c phát triể n giáo dục và các phương thức đào tạo được công bố, cụ thể như: - “Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI kinh nghiệm của các quốc gia” của Viện nghiên cứu phát triển giáo dục 2002. - “Cơ sở lý luận – thực tiễn và chính sách quốc gia quản lý nhà nước về giáo dục” Viện nghiên cứu phát triển giáo dục 2003. - Ngoài ra còn có nhiề u bài viế t đăng trên các tạp chí khoa ho ̣c giáo du ̣c bàn về quản lý chất lượng giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, đổi mới giáo dục đại học, mối quan hệ giữa qui mô, chất lượng và hiệu quả đào ta ̣o trong phát triển giáo dục ở nước ta… Tuy nhiên việc nghiên cứu về quản lý các hoạt động liên kết đào tạo giữa các cơ sở đào tạo hiện nay còn chưa được chú ý thích đáng.
Những nghiên cứu về quản lý hoạt động liên kết đào tạo chủ yếu là dừng ở các bài báo hoặc các tham luận hô ̣i thảo , do vâ ̣y vấn đề này cần được tiếp tục nghiên cứu toàn diện trên các bình diện khác nhau. Lý luận về quản lý giáo dục 1. Quản lý Trong lịch sử phát triển của xã hội, từ khi con người biết kết hợp sức với nhau lại để tự vệ hoặc mưu sinh thì bên cạnh lao động chung đã xuất hiện những hoạt động mang tính đặc thù có tổ chức, phối hợp, điều khiển hoạt động đông người như một tất yếu khách quan nhằm thực hiện mục đích đã định. Dạng lao động đặc thù đó chính là quản lý.
Ngày nay mọi người đều thừa 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận quản lý là một nhân tố của sự phát triển xã hội, là hoạt động phổ biến diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến nhiều người. Marx coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Ông viết "Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một qui mô khá lớn đều yêu cầu có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân, sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó. Một nhạc sĩ độc tấu thì sự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì cần có một nhạc trưởng".
5 ] Theo Đại Bách khoa toàn thư Liên Xô: "Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với bản chất khác nhau (xã hội, sinh vật, kỹ thuật), nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình, mục đích hoạt động. 5] Một số định nghĩa khác cũng đáng được lưu ý như: - "Quản lý là những hoạt động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong một tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định.13] - "Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động" [33, tr.15] - "Quản lý tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế. bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.7] - "Quản lý là tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt mục đích của tổ chức" [10,tr.1] 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - "Quản lý là sự tác động có ý thúc của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với qui luật khách quan.1] Khái niệm quản lý được các tác giả định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau song khi phân tích một cách chi tiết ta có thể hiểu quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng động người để đạt được các mục tiêu để ra một cách hiệu quả nhất. Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật.
Quản lý mang tính khoa học vì các hoạt động của quản lý có tổ chức, có định hướng đều dựa trên những quy luật, những nguyên tắc và những phương pháp hoạt động cụ thể. Quản lý mang tính nghệ thuật vì nó được vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo vào những điều kiện cụ thể, trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong đời sống xã hội. Tính khoa học: Tính khoa học của quản lý đòi hỏi các nhà quản lý trước hết phải nắm vững những quy luật liên quan đến quá trình hoạt động của tổ chức, đó không chỉ là những quy luật kinh tế mà còn là hàng loạt những quy luật khác, nắm quy luật thực chất là nắm vững hệ thống lý luận về quản lý. Tính khoa học của quản lý còn đòi hỏi các nhà quản lý phải biết vận dụng các phương pháp đo lường định lượng hiện đại, những thành tựu tiến bộ của khoa học kỹ thuật.
Để nắm được và thực hiện được tính khoa học của quản lý, trước hết phải biết tiếp cận khoa học thật rõ ràng với các khái niệm, tức là những từ và những thuật ngữ chính xác, thích hợp với những sự việc đem phân tích với đầy đủ các thông tin có được. Trên cơ sở này, nội dung phương pháp khoa học là xác định các sự việc thông qua quan sát các sự kiện mà xác nhận các sự việc này thông qua quan sát tiếp. Sau khi phân loại và phân tích các sự việc, các nhà quản lý tìm kiếm những mối liên hệ nhân quả 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mà họ tin là đúng. Khi các khái quát hóa, hay là giả thuyết nêu ra đã được kiểm định về mức độ chính xác và dường như đúng, phản ánh hoặc giải thích được thực tại và do đó có giá trị trong việc dự báo cái gì sẽ xẩy ra trong những hoàn cảnh tương tự thì chúng được gọi là các nguyên tắc.
Sự mô tả này không phải bao giờ cũng có nghĩa là chúng đúng mãi hoặc không còn gì đáng nghi ngờ nữa, mà có nghĩa là chúng được tin là có đủ giá trị để dùng cho việc dự đoán. Quan trọng hơn, khoa học quản lý còn cung cấp cho người quản lý phương pháp nhận thức và phương pháp hành động một cách khách quan khoa học. Tính nghệ thuật: Quản lý là một khoa học nhưng mang tính nghệ thuật. Kiến thức làm cơ sở cho quản lý là một khoa học, còn vận dụng kiến thức đó để quản lý lại là nghệ thuật.
Tính nghệ thuật của quản lý xuất phát từ tính đa dạng phong phú, tính muôn hình muôn vẻ của các sự vật và hiện tượng trong kinh tế xã hội và trong quản lý.