CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC VĂN HOÁ DÂN TỘC CHO HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc là sức mạnh, là tài sản “vô hình” của mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng để gắn kết giữa cộng đồng trong nước và cộng đồng ở nước ngoài. Một số quốc gia trên thế giới, thậm chí, coi tài sản “vô hình” này là sức mạnh mềm của quốc gia.
Theo Joseph Nye, lý thuyết gia người Mỹ, người khởi xướng lý thuyết này, “sức mạnh mềm” gồm: văn hoá, hình thái ý thức, quy tắc và chế độ của thể chế quốc tế, chế độ kinh tế chính trị của quốc gia đó. Sau này, vào năm 2006, ông đã chỉ ra ba nguồn chủ yếu của sức mạnh mềm là: văn hoá, giá trị quan quốc gia và chính sách đối ngoại. Với Việt Nam, cộng đồng 54 dân tộc đều có một kho tàng di sản văn hóa giàu bản sắc và truyền thống lâu đời. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, văn hoá là một lĩnh vực rất dễ bị tổn thương, trong đó bản sắc văn hoá và văn hoá truyền thống dễ bị tổn thương hơn cả.
Chính vì thế, nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành các chiến lược, chính sách để bảo vệ bản sắc văn hoá quốc gia, phát huy truyền thống dân tộc ở trong và ngoài nước [26]. Theo các tư tưởng giáo dục thời hiện đại, vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức, giáo dục văn hoá truyền thống là vấn đề được nhiều nhà tư tưởng giáo dục thời hiện đại quan tâm. Johann Pestalozzi (1746-1827), được coi như bậc tiền bối của khoa học giáo dục hiện đại. Cốt lõi của hệ thống tư tưởng giáo dục của ông là lý thuyết về giáo dục sơ đẳng, trong đó quá trình giáo dục cần phải được bắt đầu từ những yếu tố đơn giản nhất rồi dần tiến tới những yếu tố ngày càng phức tạp hơn.
Lý thuyết này được thấm nhuần trong tất cả các mặt giáo dục: Thể chất, lao động, đạo đức và trí tuệ. Tất cả các mặt giáo dục này được thực hiện hiện trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau, nhằm đảm bảo sự phát triển hài hoà của con người [13, tr. Robert Owen (1771-1858) cho rằng giáo dục trí tuệ phải gắn liền với lao động sản xuất, với giáo dục thể chất, giáo dục đạo đức thực hiện trên tinh thần của chủ nghĩa tập thể [13, tr. Emile Durkheim (1858-1917) - Nhà xã hội học - Nhà sư phạm người Pháp đã đưa ra định nghĩa giáo dục là một hành động được tiến hành bởi người lớn đối với những người còn chưa sẵn sàng đối với đời sống xã hội.
Mục đích của giáo dục là làm khơi dậy và phát triển ở trẻ em một số nhất định những trạng thái đạo đức, trí tuệ và thể chất mà xã hội trong toàn bộ cũng như môi trường cụ thể nơi các em sẽ được gắn kết vào đòi hỏi phải có, giáo dục bao gồm việc xã hội hóa có phương pháp cho thế hệ 6 trẻ [13, tr. Các nghiên cứu trong nước Giữ gìn và phát huy văn hoá dân tộc nói chung và văn hoá của mỗi dân tộc nói riêng cho thế hệ trẻ, đặc biệt là học sinh hiện nay được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đi trước đã đề cập đến với nhiều mức độ khác nhau. Nghiên cứu về giá trị văn hóa, giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Có rất nhiều các công trình nghiên cứu như: Công trình nghiên cứu của Phan Huy Lê - Vũ Minh Giang với “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” [9]; Huỳnh Khái Vinh: Giá trị VHTT (2000)[23]; TS Hồ Bá Thâm: Văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc (2012)[16]; Trần Ngọc Bình: Đời sống văn hóa các dân tộc Việt Nam (2013) [2]; Trần Mạnh Thường có tác phẩm “Việt Nam văn hóa và Giáo dục” [21];. Công tác nghiên cứu về giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc cũng được quan tâm. Có nhiều văn bản, Nghị quyết, nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước đã đề cập đến vấn đề giáo dục truyền thống cho học sinh, sinh viên ở những mức độ khác nhau. Vấn đề này được thể hiện trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII; Chỉ thị của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, văn hóa, giáo dục.
Một số tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh như: “Bàn về công tác giáo dục’’(NXB Sự thật, Hà Nội, 1970)[11],“về giáo dục thanh niên’’ (NXB Sự thật, Hà Nội, 1992)[12]… Các nghiên cứu về giáo dục VHTT trong bối cảnh đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước; phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế như: ‘‘Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị VHTT Việt Nam trong đổi mới và hội nhập’’ của Ngô Đức Thịnh[20]; “Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Duy Bắc [1]; “Hệ giá trị Việt Nam : từ truyền thống đến hiện đại” của Trần Ngọc Thêm [19];… Các nghiên cứu về giáo dục văn hóa dân tộc Cadong tại huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi cũng được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều bài viết quan tâm như: “ văn hoá tín ngưỡng dân tộc Cadong huyện Sơn Tây-tỉnh Quảng Ngãi” của Nga Ri Vê [22]; “Lưu truyền và gìn giữ văn hoá các dân tộc vùng cao của tỉnh Quảng Ngãi” của Hoàng Ngân[24]; “Giữ gìn văn hoá các dân tộc” của Kim Ngân[25]; “Quảng Ngãi: Góp phần giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa đồng bào Ca Dong” của Đinh Hương[26]. Hầu hết các tài liệu, công trình nghiên cứu đã đề cập đến những nét văn hóa của các dân tộc, việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa đó. Mặc dù các vấn đề liên quan đến đề tài khá phong phú. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về Quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc Cadong cho học sinh ở các trường THCS huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi hiện nay chưa thu hút sự tham gia nghiên cứu của các nhà khoa học.
Do 7 vậy, đề tài quan tâm đến việc “Quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc Cadong cho học sinh ở các trường THCS huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi” có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Thông qua kết quả nghiên cứu này, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý hoạt động giáo dục văn hoá dân tộc Cadong cho học sinh ở các trường THCS huyện Sơn Tây tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian đến. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý Từ xưa đến nay rất nhiều nhà khoa học quản lý đã đưa ra rất nhiều khái niệm liên quan đến quản lý khác nhau như: Theo Mary Parker Follet "Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”.Taylor (1856 - 1915) "Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất, rẻ nhất".
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định”[14]. Theo tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những hoạch định của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất"[8]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [4, tr. Các quan niệm nêu trên về quản lý tuy có không giống nhau nhưng có cùng những quan điểm chủ yếu sau: Quản lý là những tác động có tính hướng đích; được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Như vậy, từ sự phân tích trên ta có thể nêu khái quát quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức, thông qua công cụ và phương pháp quản lý nhằm làm cho tổ chức đó vận hành thuận lợi và đạt mục tiêu đề ra và đồng thời phải làm cho tổ chức ngày càng phát triển. Quản lý giáo dục Từ trước đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm quản lý giáo dục, sau đây là một số định nghĩa có liên quan: Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục, để tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" [14]. 8 Theo Trần Kiểm (2004): Quản lý giáo dục (QLGD) là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý giáo dục đến toàn bộ các phần tử và các lực lượng trong hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đúng tính chất, nguyên lý và đường lối phát triển giáo dục, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu đề ra”.36] Đối với cấp vĩ mô, quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục [8, tr.