Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Hoạt động giáo dục thể chất ở trường phổ thông ở các nước đã có nhiều công trình khoa học của các tác giả nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau.P, (1990), “giáo dục thể chất là một quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục – giáo dưỡng nhất định mà đặc điểm của quá trình này là có tất cả các dấu hiệu chung của quá trình sư phạm với vai trò chỉ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động tương ứng với các nguyên tắc sư phạm” Theo Lê Đông Dương (2017), Xu hướng GDTC cấp tiểu học của một vài nước trên thế giới như sau: (1) Về nội dung chương trình GDTC của Nga và Mỹ có nhiều nét tương đồng với nhau. Mục đích là tăng cường sức khỏe cho học sinh, nâng cao thể chất, thúc đẩy các mặt về đức, trí, thể, mỹ.
Chương trình mỗi lớp học có 2-3 tiết/tuần. Nội dung có hai phần gồm giáo dục thường thức TDTT và luyện tập thực hành. Trong đó giờ lên lớp chiếm 70%, còn lại là giờ tự chọn. Giờ tự chọn do nhà trường quyết định nội dung như : võ thuật, trò chơi dân gian địa phương,… (2) Chương trình GDTC tiểu học của Nga và Trung Quốc có sắp xếp tỉ lệ nhất định việc giảng dạy các môn thể dục cơ bản, điền kinh, nhào lộn.
Các môn bóng, võ thuật, bơi lội được xếp vào môn tự chọn. Hai nước này họ chú trọng công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh qua các mặt sau: (a) sự chuyên cần và tích cực học tập; (b) thường thức thể thao (từ lớp 3 trở lên); (c) tố chất thể lực, năng lực vận động, đánh giá thành tích của môn chạy, nhảy, ném. 8 (3) Giáo dục thể chất của Anh và Mỹ thực hiện quản lí theo cơ chế mở, ngoài Bộ GD-ĐT còn nhiều tổ chức khác tham gia. Hiệp hội giáo dục quốc gia và Hiệp hội Thanh tra giáo dục cùng tham gia biên soạn chương trình, tài liệu giảng dạy, đánh giá hoàn thiện chương trình GDTC cấp tiểu học.
Một trong những tổ chức đầu tiên nghiên cứu vấn đề GDTC cho trẻ em và thanh niên là Hội đồng GDTC thuộc Phủ Tổng thống. Cơ quan này có quyền điều tiết số giờ GDTC ở các trường phổ thông. Nội dung GDTC của họ không đồng nhất ở các Bang khác nhau. Nội dung của họ rất phong phú gồm các môn: bóng, điền kinh, thể dục cơ bản, trò chơi, nhảy dây, tennis, bơi, võ thuật,…múa dân gian, múa cổ điển dân tộc cũng được quan tâm.
(4) Giáo dục thể chất tiểu học ở Nhật Bản được chính phủ quan tâm rất đặc biệt để nâng cao thể trạng tầm vóc dân tộc. Nội dung GDTC có hai dạng: (a) các bài tập tăng chiều cao cơ thể gồm: môn bơi, thể dục, chạy ngắn, bóng, cầu lông và trò chơi vận động; (b) bài tập phát triển nhóm cơ bắp (Lê Đông Dương, 2017). Các nghiên cứu trong nước Hiến pháp nêu rõ: “Nhà nước thống nhất quản lí sự nghiệp phát triển TDTT, quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học,…” (Quốc hội, 2012). Luật Thể dục thể thao (TDTT) quy định: giáo dục thể chất là môn học chính khóa thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện (Quốc hội, 2006).
(Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2000), Pháp lệnh Thể dục thể thao khẳng định: “Thể thao trường học, bao gồm GDTC và hoạt động ngoại khóa cho người học. GDTC trong trường học là chế độ giáo dục bắt buộc nhằm nâng cao sức khỏe, phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân 9 cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học. Nhà nước khuyến khích TDTT ngoại khóa trong nhà trường”. Thủ tướng chính phủ từng khẳng định: “Đảm bảo chất lượng dạy và học thể dục chính khóa, các hoạt động thể thao ngoại khóa cho học sinh, xây dựng chương trình GDTC hợp lý,…và tận dụng các công trình TDTT trên địa bàn phục vụ cho hoạt động GDTC trong trường học” (Thủ tướng chính phủ, 2011).
Nghị quyết số 08/NQ-TW năm 2014 nêu rõ: “Mục tiêu của Nghị quyết này là nhằm tiếp tục hoàn thiện bộ máy tổ chức, đổi mới quản lí, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ TDTT, tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, công nghệ làm nền tảng phát triển mạnh mẽ và vững chắc sự nghiệp TDTT đến 2020” (Nghị quyết số 08/NQ-TW, 2014). Như vậy việc GDTC cho học sinh trong trường học là một việc làm cần thiết nhằm giáo dục, giữ gìn sức khỏe cho bản thân và học tập. Đề cập đến GDTC đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về GDTC trong trường học nói chung, đó là: Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Lê Quang Triệu; “Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục thể chất tại các trường THCS huyện Huế Võ, tỉnh Bắc Ninh”. Đề tài tập trung đánh giá thực trạng quản lí hoạt động GDTC tại các trường Trung học cơ sở (THCS) trên địa bàn huyện Huế Võ và thực trạng quản lí hoạt động GDTC của phòng Giáo dục – Đào tạo huyện Huế Võ, từ đó tác giả đề xuất 6 biện pháp quản lí hoạt động GDTC ở các trường THCS của phòng Giáo dục – Đào tạo huyện Huế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Luận văn thạc sĩ Giáo dục học của tác giả Trần Văn Hồng; “Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục thể chất tại các trường THCS quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng”. Đề tài đánh giá thực trạng quản lí giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh, quản lí bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên, việc nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động GDTC trong 10 các trường THCS quận Ngũ Hành Sơn Đà Nẵng, quản lí kế hoạch, quản lý cơ sở vật chất phục vụ hoạt động GDTC, quản lí việc kiểm tra đánh giá, từ đó tác giả đưa ra 6 biện pháp nhằm nâng cao hoạt động GDTC tại các trường THCS quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng. Luận văn thạc sĩ Giáo dục học của tác giả Diệp Chanh Tha: “Biện pháp quản lí hoạt động giáo dục thể chất ở các trường Trung học phổ thông huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh” Đề tài đánh giá thực trạng việc nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động GDTC trong trường trung học phổ thông, thực trạng quản lí mục tiêu, nội dung chương trình, quản lí việc kiểm tra đánh giá và thực trạng quản lí các điều kiện phục vụ cho hoạt động GDTC, từ đó tác giả đề ra 5 biện pháp nhằm nâng cao hoạt động GDTC tại nhà trường. Từ các nghiên cứu của các nhà khoa học và của các tác giả về quản lí hoạt động GDTC là những công trình nghiên cứu khoa học, có chiều sâu về lý luận và đánh giá đúng thực trạng, đưa ra các biện pháp mang tính khả thi cao song chủ yếu mang tính tổng quát trên phạm vi rộng và ở các cấp học từ THCS trở lên, chủ yếu là cơ sở lý luận về hoạt động GDTC của học sinh tiểu học.
Nhìn chung việc nghiên cứu để đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDTC cho cấp tiểu học là chưa được đề cập nhiều. Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu để tiếp tục góp phần nâng cao chất lượng công tác GDTC trong các trường tiểu học của thị xã Bình Minh nói riêng và của các trường tiểu học nói chung. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lí Thuật ngữ “quản lí” thường được hiểu theo những cách khác nhau tùy theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu.
Quản lí là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lí dưới góc 11 độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Theo Mary Paker Follet định nghĩa: “quản lí là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua con người” (Đặng Quốc Bảo và các cộng sự, 2010). Theo Stoner thì: “quản lí là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt nhưng mục tiêu của tổ chức” (Đặng Quốc Bảo và các cộng sự, 2010).
Theo Griffin, cho rằng: “quản lí là một tập hợp các hoạt động (bao gồm cả lên kế hoạch, ra quyết định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra) để sử dụng tất cả các nguồn lực của tổ chức (con người, tài chính, vật chất và thông tin) nhằm đạt được những mục tiêu đề ra của tổ chức một cách hiệu quả” (Đặng Quốc Bảo và các cộng sự, 2010). Theo Ômaror (Liên Xô): “Quản lí là tính toán sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ của sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh tế tối ưu”. Theo Harold Koontz: “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nổ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lí là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất”.
Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “ Hoạt động quản lí là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Vậy quản lí là quá trình tác động có kế hoạch, có chủ đích, hợp qui luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức, đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã xác định. 12 Nói cách khác, quản lí là quá trình thực hiện các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã đề ra. Quản lý giáo dục Theo Đặng Quốc Bảo: “Quản lí giáo dục được hiểu là quản lý được thực hiện trong các tổ chức giáo dục.
Vai trò của người quản lí là đảm bảo từng mục tiêu của tổ chức đạt được bằng cách làm việc với những người sử dụng những nguồn lực và chuyển thành hàng hóa và dịch vụ cho người cần.