phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dụcthể chất cho trẻ em ở trường MN. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động GDTC cho trẻ em ở trường MN Hoa Sữa, quận Long Biên, thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động GDTC cho trẻ em ở trường MN Hoa Sữa quận Long Biên, thành phố Hà Nội. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT CHO TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƢỜNG MẦM NON 1. Đặc điểm phát triển thể chất của trẻ mầm non 1.
Sự phát triển tâm lý trẻ mầm non Sự phát triển tâm lý của trẻ chịu nhiều tác động của nhiều yếu tố: bẩm sinh, di truyền, môi trường và hoạt động, dạy học-giáo dục và hoạt động các nhân. Trong đó yếu tốt bẩm sinh, di truyền đống vai trò là tiền đền của sự phát triển tâm lí, môi trường xã hội và hoạt động là điều kiện, dạy học-giáo dục đóng vai trò chủ đạo, còn hoạt động tích cực của cá nhân đóng vai trò quyết định sự phát triển tâm lí. Yếu tố đóng vai trò quyết định sự phát triển tâm lí trẻ được thể hiện như sau: - Sự phát triển tâm lý của trẻ em là một quá trình trẻ em lĩnh hội văn hóa xã hội loài người dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của người lớn thông qua hoạt động của bản thân làm cho tâm lý của trẻ được hình thành và phát triển. Hay có thể nói, sự phát triển tâm lý của trẻ là một quá trình kế thừa.
Yếu tố tâm lý lúc đầu ở vị trí thứ yếu, chuẩn bị cho tâm lý tiếp theo giữ vị trí chủ yếu. Trẻ được lớn lên giữa môi trường nên sự lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội của trẻ chỉ có được khi có vai trò của người lớn. Do vậy, người lớn sẽ chỉ bảo, hướng dẫn cho trẻ những thay đổi của sự vật xung quanh và cách hành động. - Sự phát triển tâm lý của trẻ thể hiện ở các hình thái: + Sự phát triển về sinh lí thể hiện ở sự phát triển về cơ thể, ở sức chịu đựng, chống đỡ với những ảnh hưởng bên ngoài cơ thể, ở sự hình thành và phát triển hệ thống cơ, xương, thần kinh và sự hoàn thiện các chức năng của hệ thống đó.
+ Sự phát triển về tâm lý, xã hội được thể hiện ở sự hình thành nên con người với tư cách là một thành viên của xã hội, tích cực tham gia cải tạo xã hội được thể hiện ở sự nhận thức thế giới: từ nhận thức cảm tính dần phát triển lên nhận thức lý tính.2 Sự phát triển sinh lý trẻ mầm non - Sự phát triển cơ thể trẻ: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sự phát triển cơ thể trẻ tuân theo những quy luật cơ bản của sinh học, trình tự và tốc độ phát triển phụ thuộc và các yếu tố: Di truyền, môi trường, phương pháp nuôi dưỡng, vệ sinh, sự rèn luyện của bản thân. Những năm đầu, tốc độ phát triển của trẻ diễn ra mạnh mẽ đặc biệt là sự phát triển chiều cao, trọng lượng cơ thể. Các chức năng tâm lý, sinh lý đang định hình và dần hoàn thiện. Đặc biệt vận động của trẻ từ thụ động phụ thuộc vào người lớn dần chuyển sang chủ động và dần được hoàn thiện.
Sự phát triển thể chất của trẻ ở mỗi lứa tuổi khác nhau, tuy nhiên trong cùng một độ tuổi, sự phát triển thể chất diễn ra theo những quy luật nhất định. Trong giai đoạn đầu đời, sự phát triển ở tất cả cơ quan và hệ cơ quan của cơ thể diễn ra mạnh mẽ. Trong đó, vận động là cơ quan phát triển, thay đổi lớn nhất của con người. Hệ vận động bao gồm hệ xương và hệ cơ quan.
Hệ xương và cơ của trẻ nhỏ có nhiều sự khác biệt với người lớn cả về cấu tạo cũng như chức năng hoạt động. Tuy nhiên, khả năng vận động của trẻ vẫn còn hạn chế. - Sự phát triển sinh lý vận động: Sự phát triển sinh lý vận động diễn ra mạnh mẽ trong những năm đầu sự phát triển của trẻ. Các cơ quan vận động như bộ xương, cơ, gân, dây chằng, khớp có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển cơ thể.
Trẻ mới sinh đã hình thành phản xạ có điều kiện và diễn ra nhanh chóng. Mức độ phát triển, sự phân hóa hệ thần kinh TW làm xuất hiện chức năng vận động. Tháng thứ 2 thiết lập mối quan hệ giữa cơ quan điều khiển và tiền đình, sau đó hình thành mối liên hệ giữa cơ quan điều khiển tay và thị giác. Tháng 4, 5 xuất hiện mối liên kết thị giác và điều khiển.
Tháng 6 trẻ bắt đầu bò, 9 tháng trẻ có khả năng đứng và đi. Sang năm thứ 2 trẻ lĩnh hội những vận động phức tạp hơn như chuyển sang chạy, năm thứ 3 trẻ được dần hoàn thiện các vận động leo, trèo, chạy, nhảy, bật.dưới giáo dục và sự hướng dẫn của người lớn. Từ 4-6 tuổi diễn ra quá trình củng cố những môi liên hệ tạm thời giữa kỹ năng và kỹ xảo vận động, Các cận động cơ bản và các tổ chất thể lực của trẻ cơ bản được hoàn thiện khi trẻ lên 6 tuổi. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Tổng quan nghiên cứu về quản lý hoạt động GDTC cho trẻ ở trƣờng MN 1. Các nghiên cứu về hoạt động GDTC cho trẻ trong trường MN Trẻ em ngay từ khi sinh ra đến khi trưởng thành, để có thể sinh sống, lao động sản xuất, tồn tại trong sự phát triển của xã hội cần phải có sự chuẩn bị tốt về mặt thể lực. Chính nhu cầu thực tiễn đó đã làm nảy sinh các nghiên cứu của các nhà khoa học về lĩnh vực phát triển thể chất. Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về vấn đề này được thể hiện trong các nghiên cứu lý luận và thực tiễn GDTC cho trẻ em trong các trường MN.
Có thể kể ra một số công trình sau: A. Bưcốpva nghiên cứu vấn đề phát triển vận động của trẻ MN. Bà đã chứng minh và đưa ra quá trình dạy trẻ các vận động, ý nghĩa, nội dung, cách thức tổ chức và phương pháp tiến hành. [20] Những công trình nghiên cứu khoa học về phương pháp của N.
Bưcốpva có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển lí luận và thực tiễn của GDTC MN. Họ đã nghiên cứu chương trình GDTC cho trẻ, giáo trình giảng dạy cho trường Trung học sư phạm và những trò chơi vận động cho các trường MN. Lĩnh vực giáo dục MN trong những năm gần đây đã có số lượng rất nhiều các công trình nghiên cứu khoa học về chế độ sinh hoạt, hình thành kĩ năng vận động cho trẻ MN, ý nghĩa giáo dục của trò chơi vận động cho trẻ MN, hình thành khả năng định hướng không gian, tố chất thể lực trong vận động của trẻ, vai trò giáo dục của thi đua, dạy trẻ bài tập vận động cơ bản và bài tập thể thao. Khucskhlaieva đã viết cuốn sách “Lí luận và và phương pháp GDTC cho trẻ MN”.
Đây là sự đúc kết của hàng trăm công trình nghiên cứu trong lĩnh vực GDTC cho trẻ MN.Lexgap là nhà sáng lập lí luận GDTC người Nga. Ông là nhà bác học, giáo dục vĩ đại, giáo sư y học và phẫu thuật, là một trong số những người tiến bộ ở thời đại của mình vào những năm 60 thế kỉ XIX. Ông là nhà sáng lập khoa học GDTC ở nước Nga, đặt cơ sở khoa học GDTC cho thế hệ trẻ. Ông đã xâ dựng cơ sở lí luận giáo dục, trong đó GDTC đóng vai trò chủ yếu.
Ông nghiên cứu hệ thống các bài tập thể chất cho trẻ, ý nghĩa vệ sinh và sức khỏe và bài tập thể chất [20] 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Gorinhépxkhi giáo sư, bác sĩ nhi khoa, ông đã nghiên cứu vấn đề vệ sinh của các bài tập thể chất, thể dục chữa bệnh. Ông là người sáng lập công tác kiểm tra y tế và giáo dục trong các tiết học thể dục và rèn luyện thể thao. Ông xác định những đặc điểm đặc trưng của GDTC các giai đọan khác nhau của cuộc sống con người.
Sơ đồ của ông về “Bài tập thể chất phù hợp với lứa tuổi” có ý nghĩa tuyên truyền rộng rãi và tác phẩm “Văn hóa thể dục cho trẻ trước tuổi đến trường” đã bổ sung về mặt lí luận GDTC cho trẻ.Krúpxkaia (1869-1939) là người có công lao lớn nhất trong quá trình phát triển lí luận về giáo dục toàn diện cho trẻ MN. Bà đã chỉ ra sự cần thiết phải nghiên cứu lí luận giáo dục mới, xây dựng trên cơ sở học thuyết Mác- Lênin, kết hợp với nhiệm vụ của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Bà cho rằng GDTC cho trẻ có ý nghĩa lớn, coi luyện tập thể dục thể thao là nhiệm vụ quan trọng để làm vững mạnh thế hệ mai sau. Bà đã ghi nhận sự tác động bài tập thể chất lên cơ thể trẻ, đề cao vai trò của trò chơi.
Trò chơi không chỉ củng cố sức khỏe của cơ thể, mà nó còn được sử dụng với mục đích giáo dục, góp phần hình thành, củng cố kĩ năng bài tập thể chất, giáo dục biết cách điều khiển bản thân có tổ chức, có tính cách [22] Các tác giả trong nước cũng đã quan tâm nghiên cứu nhiều về các hoạt động GDTC cho trẻ trong nhà trường dưới hình thức các bài báo khoa học, các luận văn thạc sỹ, tài liệu lý luận. Có thể kể ra: Cao Thị Thu Huyền (2012), “Tìm hiểu thực trạng GDTC cho trẻ em bé tại một số trường MN khu thành phố Vĩnh yên, Vĩnh phúc”, Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Nguyễn Thị Yến Linh (2013), “Biện pháp nâng cao tính tích cực vận động trong giờ thể dục cho trẻ 5-6 tuổi”, Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh Các công trình nghiên cứu về GDTC cho trẻ em ở trong nước và trên thế giới thường tập trung vào các hướng như: hoạt động chăm sóc sức khỏe, giáo dục cho trẻ, giáo dục kỹ năng sống. nội dung rèn luyện thể lực, trò chơi vận động, phát huy tính tích cực của trẻ trong vận động….
Các nghiên cứu về quản lý hoạt động và quản lý GDTC cho trẻ em trong trường MN Xuất phát từ vai trò của bậc học MN và các hoạt động trong trường MN đối với sự phát triển nhân cách trẻ em, mục tiêu của giáo dục MN. Vì vậy đã có rất nhiều công 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.