Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KHẢ NĂNG VẬN ĐỘNG THEO NHỊP VÀ TIẾT TẤU CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Theo Richard Hawkins, khoảng 500 năm trước công nguyên, giáo dục âm nhạc đã được chú ý và đưa vào giảng dạy trong các trường học ở Hy lạp với mục đích phát triển các công dân tham gia vào xã hội Hy lạp.
Lúc này âm nhạc được giáo dục như một hoạt động mỹ thuật nói chung chủ yếu ở lĩnh vực ca hát. Hoạt động ca hát cứ thế được phát triển dần theo thời gian nhưng chủ yếu phục vụ cho việc ca hát ở các nhà thờ và chưa được đưa vào chương trình dạy học ở các trường công. Đến cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19, theo quan điểm giáo dục của Pestalozzi (1746 – 1827) – nhà cải cách giáo dục Thụy Sỹ, Lowell Mason (1792 – 1872) đã phát triển các phương pháp giảng dạy âm nhạc và đưa âm nhạc thành một môn học ngoại khóa trong các trường học của Hoa Kỳ. Vào năm 1830, âm nhạc được dùng để phát triển các mặt trí tuệ, thể chất và phẩm chất đạo đức cho người học.
Từ năm 1892 Emile Jaques Dalcroze (1865 – 1950), giáo sư ký xướng âm của nhạc viện Geneva – Thụy sỹ, trong quá trình giảng dạy ông nhận thấy các phương pháp giáo dục âm nhạc truyền thống không đạt hiệu quả cao, từ đây ông đã nghiên cứu và sáng tạo ra phương pháp dạy nhạc mới gọi là Erhythmic Dalcroze – sử dụng nhịp điệu cơ thể để học nhạc. Sau Jaques còn có một số nhà sư phạm âm nhạc khác cũng tìm ra các phương pháp để dạy nhạc hiệu quả dựa trên những năng lực tự nhiên, nhu cầu và hứng thú của người học. Các phương pháp này được các nước trên thế giới nhất là các nước tiên tiến tiếp nhận và sử dụng cho đến ngày nay như: phương pháp của Orff Schulwerk, nhà sư phạm âm nhạc người Đức, phương pháp này Luan van 8 sử dụng bộ gõ cơ thể để học nhạc từ những năm 1920; phương pháp của Zoltán Kodály (1882 – 1976) một nhà soạn nhạc, nghiên cứu âm nhạc dân tộc, và sư phạm âm nhạc người Hungary, phương pháp này học nhạc qua ký hiệu từ năm 1929; … Một trong những điểm chung của các phương pháp này là sử dụng nhịp và tiết tấu để phát triển khả năng âm nhạc trong đó có vận động theo nhạc. Sau đây là một số tài liệu cụ thể: • Một số tài liệu nói về dạy học âm nhạc theo Jaques – Dalcroze: Rhythm, Music and Education tạm dịch là “Nhịp điệu, Âm nhạc và Giáo dục” của Jaques – Dalcroze được dịch bởi Harold F.
Rubenstein vào năm 1973 và được xuất bản lần thứ 5 vào năm 2000, là một bộ sưu tập các bài giảng và bài báo trình bày ý tưởng và phương pháp của Jaques – Dalcroze, tác giả đã cho các nhà sư phạm và tâm lý học theo dõi sự biến đổi và phát triển phương pháp của mình, tác giả đã chỉ ra những tồn tại của các phương pháp giáo dục âm nhạc truyền thống và trình bày các nguyên tắc cơ bản trong phương pháp mới của mình vào ba lĩnh vực chính là: tiết tấu, xướng âm và ngẫu hứng. Cuối cùng, tác giả tóm tắt các nguyên tắc để sử dụng cho các bài tập nhằm giúp người học cảm nhận được nhịp và tiết tấu của âm nhạc và thích nghi với các hoạt động của tập thể (Jaques – Dalcroze, E. Eurhythmies, Art and Education tạm dịch là “Nhịp điệu, Nghệ thuật và Giáo dục” Của Jaques – Dalcroze được dịch bởi Frederick Rothwell, là một bộ sưu tập các bài viết liên quan đến tiết tấu hay còn gọi là nhịp điệu. Các bài viết này được viết từ năm 1922 đến 1935.
Bộ sưu tập được chia thành bốn loại đó là: Nhịp điệu, Giáo dục, Nghệ thuật và Tổng quan. Phần Nhịp điệu Jaques – Dalcroze nói về bản chất và giá trị của vận động theo giai điệu và kỹ thuật di chuyển. Phần Giáo dục nói về việc sử dụng nhịp điệu trong giáo dục âm nhạc, mối quan hệ giữa người chơi nhạc với các bài học piano, việc sử dụng nhịp điệu cho người mù và những định hướng của giáo dục âm nhạc trong tương lai. Trong phần Nghệ thuật, tác giả trình bày các nguyên tắc và triết lý của mình Luan van 9 liên quan đến nhịp điệu cho các biên đạo múa và vũ công, các tác phẩm âm nhạc cho phim và kịch nghệ.
Phần cuối, tổng quan, đề cập đến việc sử dụng bài hát dân gian để thể hiện nhịp điệu tự nhiên theo văn hóa dân tộc (Jaques – Dalcroze, E. Rhythm Games for Perception and Cognition tạm dịch là “Những trò chơi nhịp điệu phát triển nhận thức” của Abramson, tác giả dựa trên các nguyên tắc của Jaques – Dalcroze để sử dụng ba hình thức trò chơi cơ bản đó là: phản ứng nhanh, làm theo và nối tiếp hay còn gọi là canon. Abramson đã biên soạn một loạt các trò chơi âm nhạc nhằm kích thích sự tích cực của người tham gia. Trong tài liệu này, các trò chơi tập trung nhấn mạnh vào các khái niệm về nhịp độ và nhịp điệu, cường độ.
Các trò chơi cho mỗi khái niệm được sắp xếp theo độ khó tăng dần. Tiến trình cơ bản của trò chơi là: từ di chuyển tại chỗ đến di chuyển trong không gian, từ chuyển động đơn lẻ của từng bộ phận cơ thể đến sự chuyển động của toàn bộ cơ thể (Abramson, R. tác giả của quyển luận văn The Effect of Dalcroze Eurhythmics on the Melodic Musical Growth of First Grade Student tạm dịch là “Hiệu quả nhịp điệu của Dalcroze trong phát triển âm nhạc dành cho trẻ đầu cấp” trình bày khá đầy đủ về phương pháp dạy học theo quan điểm Jaques – Dalcroze. Phương pháp này được nhiều nước trên thế giới công nhận và sử dụng để giáo dục âm nhạc cho học sinh các cấp và cũng dùng để dạy khiêu vũ, sân khấu và trị liệu trong các trung tâm trị liệu cho người khuyết tật (Crumpler, S.
với luận án Tiến sĩ Đại học Boston Massachusetts Adaptation of Dalcroze methodology to the teaching of music to kindergarten students in Korea tạm dịch là “Phương pháp Dalcroze dành cho trẻ mẫu giáo ở Hàn Quốc”, tác giả nghiên cứu về phương pháp dạy âm nhạc của Dalcroze cho trẻ mẫu giáo. Với nghiên cứu này tác giả đã đưa ra được những đặc điểm của phương pháp Dalcroze đáp ứng được với mục tiêu cuối cùng của việc giáo dục âm nhạc Luan van 10 đương đại của Hàn Quốc, từ đó đề xuất vận dụng vào thực tiễn giáo dục âm nhạc cho trẻ mẫu giáo ở Hàn Quốc (Jeong, J. tác giả luận văn thạc sĩ thuộc Đại học Missouri – Kansas năm 2007 Mind/body dualism and music theory pedagogy: Applications of Dalcroze Eurhythmics tạm dịch là “Thuyết nhị nguyên và Lý thuyết giáo dục âm nhạc áp dụng theo phương pháp Nhịp điệu của Dalcroze”, tác giả trình bày lý thuyết của phương pháp dạy âm nhạc của Jack Dalcroze, người phát hiện ra một sự phân chia giữa tâm trí và cơ thể là cái cản trở học sinh học âm nhạc. Từ đó Dalcroze đã xây dựng một phương pháp bao gồm các bài tập được thiết kế để tăng cường giao tiếp tâm trí với cơ thể giúp người học trải nghiệm âm nhạc một cách trí tuệ và trực quan (Christina, M.
• Một số tài liệu nói về dạy học âm nhạc theo Orff Schulwerk: Diane. tác giả của quyển sách Together in Harmony. Combining Orff Schulwerk and music learning theory tạm dịch là “Hòa âm, sự kết hợp giữa phương pháp Orff Schulwerk với lý thuyết học âm nhạc”, tác giả giới thiệu và tổng hợp lại các phương pháp dạy âm nhạc cho trẻ theo Orff một cách rất dễ hiểu gồm: nói theo nhịp, chơi nhạc cụ, hát, sử dụng nhạc cụ cầm tay định âm và không định âm, sử dụng bộ gõ cơ thể để thể hiện tiết tấu. Ở chương 2 tác giả trình bày những lý luận về lý thuyết âm nhạc.
Qua tài liệu này người đọc sẽ hiểu rõ hơn về cách sử dụng phương pháp dạy nhạc của Orff cũng như có sự nối kết giữa lý luận dạy nhạc với phương pháp của Orff (Diane. Christoph Maubach đã giới thiệu phương pháp Orff Schulwerk trên trang của hiệp hội Victoria Orff Schulwerk qua tài liệu Introduction To The Orff Schulwerk Approach tạm dịch là “Giởi thiệu về phương pháp Orff Schulwerk”, tác giả đã viết Gunild Keetman và Orff đã phát triển một mô hình mới để dạy âm nhạc cho mọi độ tuổi. Quan điểm của Orff là trẻ em và người lớn học âm nhạc tốt nhất khi được chơi, khiêu vũ, sáng tạo và ứng biến âm nhạc. Tác giả còn nêu lên các nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho phương pháp cùng các Luan van 11 phương tiện, quy trình thực hiện của phương pháp.
Ngoài ra, tác giả còn trình bày về lịch sử phát triển của phương pháp Orff Schulwerk cũng như giới thiệu bộ sưu tập năm quyển sách “Orff Schulwerk âm nhạc cho trẻ nhỏ” được viết từ năm 1950 đến năm 1954 là bộ sưu tập âm nhạc gồm các bài tập dành cho trẻ để liên kết các nội dung chơi nhạc cụ, hát nói và khiêu vũ (Christoph, M. The Orff Schulwerk Approach tạm dịch là “Phương pháp Orff Schulwerk” được tiến sĩ Shamrok thuộc đại học Westirginia và Đại học bang California của Mỹ trình bày: triết lý sư phạm của Orff Schulwerk dựa trên nền tảng khai thác và phát triển năng lực âm nhạc thông qua khả năng vui chơi tập thể và vận động là khả tự nhiên của mọi đứa trẻ. Năng lực âm nhạc tự nhiên đó bao gồm: hát, xướng đồng dao – ca dao, vỗ tay, đập gõ, chơi trò chơi, nhảy múa, v.v… Theo Orff và Keetman, trẻ học âm nhạc bắt đầu bằng nghe và thực hành trước, rồi mới đến đọc và viết. Các tác phẩm văn học dân gian như đồng dao, ca dao, các bài hát ru của mẹ… được Orff khai thác và xây dựng nó thành những bài tập để học âm nhạc.
Khi học nhạc trẻ phải được trải nghiệm qua vận động và chơi đùa. Các bài học của Orff khám phá và phát triển các kỹ năng thông qua các phương tiện: hát nói, ca hát, vận động, chơi nhạc cụ. Giáo viên khi dạy âm nhạc cho trẻ theo phương pháp của Orff phải đi theo quy trình của nó gồm: thăm dò, sau đó là bắt chước, rồi cải tiến, cuối cùng là sáng tạo (Shamrock, 2007). • Một số tài liệu nói về dạy âm nhạc theo quan điểm của Kodály: Micheal Houlahan và Philip Tacka với tác phẩm Kodaly Today: A Cognitive Approach to Elementary Music Education tạm dịch là “Kodaly ngày nay: một cách tiếp cận để giáo dục âm nhạc cho trẻ ở tiểu học”.