Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG BẮT NẠT TRỰC TUYẾN CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về bắt nạt trực tuyến Lý thuyết liên quan đến bắt nạt nói chung và bắt nạt trực tuyến nói riêng được chia thành hai hướng chính: lý thuyết giải thích cơ chế hành vi và lý thuyết áp dụng cho quá trình can thiệp và phòng ngừa. Những vấn đề đề cập đến như: Một là, các nhà nghiên cứu luôn cố gắng để hiểu được sâu sắc về cơ chế và nguồn gốc nảy sinh, duy trì hành vi.
Hành vi bắt nạt trực tuyến cũng thu hút sự quan tâm lý giải của nhiều nhà nghiên cứu, với nhiều cách tiếp cận và lý giải vô cùng đa dạng, phong phú. Các học giả đã ứng dụng một số lý thuyết để giải thích riêng cho hành vi bắt nạt trực tuyến như: Lý thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory), Lý thuyết ưu thế xã hội (Social Dominance Theory), Lý thuyết hệ thống sinh thái (Ecological Systems Theory), Lý thuyết mô hình gây hấn chung (The General Aggression Model), Lý thuyết về hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action), Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behavior), Lý thuyết căng thẳng chung (General Strain Theory), Lý thuyết mô hình bắt nạt trực tuyến của Barlett và Gentile (Barlett and Gentile Cyberbullying Model),… Hai là, một số lý thuyết đã được áp dụng cho quá trình can thiệp và phòng ngừa, chẳng hạn như: Doane và cộng sự (2016) sử dụng Lý thuyết về hành động hợp lý, McGuire và Norman (2018) sử dụng Thuyết phát triển con người của Bronfenbrenner (Bronfenbrenner’s theory of human development); McCoy và cộng sự (2018) sử dụng cách tiếp cận “toàn trường” của Dan Olweus,… nghiên cứu của Topcu-Uzer và Tanrikulu (2018) đã sử dụng lý thuyết Theory of Affordances. Có nhiều nghiên cứu được thực hiện với mẫu được chọn từ một khu vực của một quốc gia nào đó cụ thể, chẳng hạn như nghiên cứu của Garaigordobil (2015) với 3026 trẻ từ 12-18 tuổi, ở xứ Basque (miền Bắc Tây Ban Nha); nghiên cứu của Safaria (2016) với 102 HS lớp 7 ở Yogyakarta, Indonesia; nghiên cứu của 7 Kapatzia và Syngollitou (2007) trên 544 học sinh 14-19 tuổi ở khu vực phía đông của thành phố Thessaloniki, phía Bắc Hy Lạp; nghiên cứu của Yilmaz (2011) với 756 HS lớp 7 từ 8 trường trung học khác nhau ở Istabul, thành phố lớn nhất của Thổ Nhĩ Kỳ. Nghiên cứu của Przybylski và Bowes (2017) với mẫu ngẫu nhiên của 298.080 HS được rút ra từ 564.886 hồ sơ cơ sở dữ liệu HS quốc gia của thanh thiếu niên từ 15 tuổi sống ở Anh, để hoàn thành các cuộc khảo sát tự báo cáo từ ngày 22 tháng 9 năm 2014 và ngày 9 tháng 1 năm 2015.
Một số nghiên cứu được thực hiện tại nhiều quốc gia cùng lúc và có sự so sánh về tỷ lệ giữa các quốc gia đó, ví dụ như nghiên cứu của Tsitsika và cộng sự (2015) với 10.930 HS ở Tây Ban Nha, Ba Lan, Hà Lan, Romania, Iceland và Hy Lạp. Nghiên cứu tổng quan hệ thống về công cụ đo đạc bắt nạt trực tuyến đã cho thấy mặc dù trong một thập kỷ qua, số lượng nghiên cứu về vấn đề này là rất nhiều, nhưng đây vẫn là lĩnh vực cần được nghiên cứu thêm. Trong tương lai, các chuyên gia trong lĩnh vực này cần có một sự đồng thuận về mặt các khái niệm và tiếp tục nghiên cứu về độ hiệu lực và độ tin cậy của các công cụ đo đạc (Lucas-Molina, Pérez-Albéniz và Giménez-Dasi, 2016). Theo kết quả tổng quan hệ thống của Berne và cộng sự (2013), trong tổng số 44 thang đo bắt nạt trực tuyến, có khoảng một nửa số đó không được xây dựng dựa trên khái niệm bắt nạt trực tuyến.
Cấu trúc của công cụ bao gồm từ hành vi quấy rối trên mạng cho đến hành vi bắt nạt trực tuyến. Mặc dù tác giả sử dụng các khái niệm khác bắt nạt trực tuyến nhưng họ vẫn tuyên bố rằng công cụ của họ làm là để đo lường nó. Các học giả đã quan tâm đến cách thức ứng phó của thanh thiếu niên trong các nghiên cứu về bắt nạt trực tuyến. Đã có những nghiên cứu định tính, định lượng được thực hiện để tìm hiểu xem liệu khi bị bắt nạt, thanh thiếu niên đã ứng phó như thế nào? Cách ứng phó của thanh thiếu niên vô cùng đa dạng, đó có thể là tìm kiếm sự giúp đỡ của bố mẹ, bạn bè, giáo viên,… nhưng cũng có những trường hợp các em lờ đi, hoặc trả đũa lại thủ phạm Mcguckin và cộng sự, 2013, Raskauskas & Huynh, 2015; Jacobs và cộng sự, 2015; Chan & Wong, 2017;…).
Đồng thời, cũng đã có những nghiên cứu cho thấy tác động, hiệu quả của các cách ứng phó đó trong việc giải quyết bắt nạt trực tuyến và giảm thiểu những hệ quả tiêu cực mà nó đem lại, ví dụ như nghiên cứu của Völlink và cộng sự (2013); Dehue (2016); Machmutow và cộng sự (2012),… 8 Trên thế giới, nhiều nghiên cứu về nhận thức của giáo viên, phụ huynh và chính bản thân học sinh về bắt nạt đã được thực hiện (cần sắp xếp theo thứ tự năm ví dụ nghiên cứu của Ševčíková, Šmahel & Otavová, 2012; Smith và cộng sự, 2006; Kaya, 2014; Asanan và cộng sự, 2017; Murphy, 2014; Diamanduros, Jenkins & Downs, 2006; Clarke, 2013; Parris và cộng sự, 2012; Stauffer và cộng sự, 2012,…). Tại các chương trình phòng ngừa, các nội dung và mục tiêu đều phải thực hiện đó là nâng cao nhận thức về bắt nạt trực tuyến. Một trong những bước đầu tiên của bất cứ chương trình phòng ngừa nào cũng là đảm bảo mọi người đều nhận thức được vấn đề. Học sinh và tất cả những người có liên quan đến học sinh đều cần có nhận thức đầy đủ về bắt nạt trực tuyến và các vấn đề xung quanh vấn đề này.
Trong quá trình học sinh tìm hiểu về bắt nạt, giáo viên và phụ huynh phải hiểu để đưa ra những câu trả lời phù hợp cho học sinh (Albert, 2011). Hơn nữa, tỷ lệ bắt nạt trực tuyến gia tăng có một phần nguyên nhân là do thiếu nhận thức về vấn đề này (Asanan và cộng sự, 2017). Như vậy qua tổng quan nghiên cứu ngoài nước đã cho thấy BNTT được nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau: nghiên cứu về các khía cạnh về khái niệm, dạng hành vi bắt nạt trực tuyến; thực trạng bắt nạt trực tuyến; xây dựng, thích ứng, kiểm định các chỉ số tâm trắc của công cụ đánh giá bắt nạt trực tuyến; đặc điểm của người tham gia bắt nạt trực tuyến; nghiên cứu về các yếu tố bảo vệ và yếu tố nguy cơ đối với bắt nạt trực tuyến; nghiên cứu về quan điểm, thái độ, niềm tin, nhận thức về bắt nạt trực tuyến của thanh thiếu niên và các bên liên quan; nghiên cứu về cách ứng phó của thanh thiếu niên và các bên liên quan với bắt nạt trực tuyến; nghiên cứu về các biện pháp phòng ngừa và can thiệp bắt nạt trực tuyến bằng các chính sách, mô hình, chương trình, ứng dụng cho cá nhân, trường học, cộng đồng [dẫn theo 7]. Ở Việt Nam, hiện nay các khái niệm về bắt nạt trực tuyến hầu hết được đưa ra dựa trên tổng hợp khái niệm từ các nghiên cứu thế giới, ví dụ nghiên cứu của Trần Văn Công và cộng sự (2015), Nguyễn Thị Bích Hạnh và cộng sự (2017) như đã trình bày, ngoài ra chưa có khái niệm nào xuất phát từ quan điểm của người Việt, được đưa ra trong bối cảnh văn hóa Việt Nam [dẫn theo 11].
Các chương trình phòng ngừa có bằng chứng tập trung nhiều ở các nước phương Tây, các nhà nghiên cứu ở các nước phương Đông như chúng ta cần lưu ý, 9 bởi tỷ lệ học sinh tham gia vào bắt nạt trực tuyến thống kê qua các nghiên cứu như ở Việt Nam cho thấy những con số không hề nhỏ (Trần Văn Công và cộng sự, 2015; Nguyễn Phương Hồng Ngọc và cộng sự, 2016; Nguyễn Thị Bích Hạnh và cộng sự, 2017). Thực trạng đó cho thấy chúng ta thực sự cần có những chương trình phòng ngừa - can thiệp vấn đề này. Mặc dù một số chương trình đã được xây dựng và triển khai tại một số khu vực, chẳng hạn như trong chương trình giảng dạy về phòng, chống và ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới trong trường học dành cho giáo viên, xuất bản bởi Plan Việt Nam nằm trong dự án Trường học an toàn, thân thiện và bình đẳng đã có một tiết dạy về bắt nạt qua mạng, hay chương trình Think Before You Share do Facebook và Viện Nghiên cứu Quản lý Phát triển bền vững phối hợp thực hiện thông qua chuỗi hội thảo, tập huấn và các nguồn tài nguyên trực tuyến, cung cấp cho thanh thiếu niên các công cụ và hướng dẫn về cách chia sẻ thông tin một cách an toàn và có trách nhiệm trên mạng xã hội. Một số nghiên cứu về cách ứng phó với bắt nạt nói chung và bắt nạt trực tuyến nói riêng đã được thực hiện.
Nghiên cứu của Trần Văn Công, Nguyễn Phương Hồng Ngọc, Ngô Thùy Dương, Nguyễn Thị Thắm (2015) về “Chiến lược ứng phó của học sinh với bắt nạt trực truyến”, Bài viết đề cập tới một nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa bắt nạt trực tuyến và cách ứng phó của học sinh trung học khi các em bị bắt nạt trực tuyến. 736 học sinh của 8 trường trung học cơ sở và trung học cơ sở ở Hà Nội, Hà Nam và Hải Dương đã tham gia vào nghiên cứu này. Kết quả cho thấy 183 học sinh (chiếm 24% tổng số khách thể nghiên cứu) là nạn nhân của ít nhất một hình thức bắt nạt trực tuyến. Mức độ và hình thức bị bắt nạt ở nạn nhân có sự khác biệt xét về mặt giới tính, khu vực sống, độ tuổi và cấp học.
Nạn nhân thường ít chia sẻ việc mình bị bắt nạt, và lảng tránh vấn đề này, tuy vậy các em nhận thức được sự nghiêm trọng của bắt nạt trực tuyến, coi đó không phải chuyện bình thường chỉ xảy ra trên mạng [9]. Các tác giả Trần Văn Công, Nguyễn Thị Hoài Phương (2018) nghiên cứu “Mối quan hệ giữa chất lượng tình bạn và bắt nạt trực tuyến ở học sinh trung học cơ sở trên địa bàn Hà Nội”, nghiên cứu này tìm hiểu mối quan hệ giữa chất lượng tình bạn và bắt nạt trực tuyến ở học sinh trung học cơ sở. Khách thể gồm 873 học sinh từ 5 trường 10 trung học cơ sở ở khu vực nội và ngoại thành Hà Nội.