CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC CHO TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON THEO HƯỚNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, đặc biệt các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến hoạt động giáo dục cho trẻ theo hướng ứng dụng CNTT ở trường MN trong giáo dục. Mỹ và một số quốc nước châu Âu gồm …đi đầu trong hoạt động giáo dục cho trẻ theo hướng ứng dụng CNTT ở trường MN trong đời sống nói chung và trong giáo dục nói riêng.
Công cuộc ứng dụng công nghệ thông tin vào giáo dục khởi nguồn từ thập niên 1970. Pháp tiên phong với đề án "Tin học cho mọi người" (1970). Fothergill và Anderson (1981) đề xuất chiến lược tích hợp công nghệ vào giáo dục, nhấn mạnh vai trò thiết bị số. Đến năm 1984, Úc, thông qua NSCU, cung cấp phần mềm giáo dục phổ thông.
Những nỗ lực ban đầu này đã đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ trong lĩnh vực giáo dục hiện nay. Allen, Seaman, Poulin, & Straut (2016) đã đưa ra ứng dụng CNTT trong giáo dục ở khu vực Châu Á, một số nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…đã thực hiện các chương trình mang tính quốc gia về tin học hóa cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, khoa học công nghệ, kỹ thuật và giáo dục. Thành tựu to lớn đã đạt được trên nhiều lĩnh vực, bao gồm điện tử, y tế, giáo dục và sinh học. Ngay từ năm 1972, Nhật Bản tiên phong với "Kế hoạch Xã hội Thông tin - Mục tiêu Quốc gia năm 2000", đặt nền móng cho sự phát triển vượt bậc về công nghệ thông tin.
Cùng với sự phát triển không ngừng của CNTT, đào tạo trực tuyến đã được triển khai tại nhiều trường đại học trên thế giới, các tiêu chuẩn công nghệ mới được áp dụng nhằm tiếp cận với những cơ hội giáo dục và đào tạo mới. Theo tổng kết của Taylor (2001), các hoạt động đào tạo trực tuyến đã trải qua 5 thế hệ công nghệ, đó là: “(i) Mô hình học hàm thụ: Mô hình này tương tác dựa trên công nghệ in ấn, tài 7 liệu được gửi đến sinh viên qua đường bưu điện, tương tác giữa người dạy và sinh viên gặp rào cản về thời gian, vị trí địa lý và tốc độ học tập. (ii) Mô hình tương tác đa phương tiện dựa trên công nghệ in ấn, âm thanh và video. Mô hình này làm giàu thêm kinh nghiệm học tập cho người học, nhưng sự tương tác giữa người học và người dạy vẫn phụ thuộc vào thư từ và điện thoại.
(iii) Mô hình tương tác qua CNTT dựa trên các ứng dụng của công nghệ viễn thông để đào tạo. Mô hình này bị hạn chế về thời gian, địa điểm và tốc độ đường truyền thông tin. (iv) Mô hình học tập linh hoạt dựa trên giao diện Website trực tuyến qua Internet và Website toàn cầu (www), với một loạt các biện pháp tạo thuận lợi cho sự tương tác giữa người dạy – người học, người học – người học thông qua email, diễn đàn trao đổi và các phương tiện truyền thông đa phương tiện. (v) Mô hình học tập linh hoạt thông minh, thừa hưởng tất cả các biện pháp của mô hình thế hệ thứ tư và bổ sung biện pháp tương tác truyền thông đa phương tiện hai chiều và hệ thống trả lời tự động, áp dụng phương thức học tập với nguồn lực được chia sẻ trên toàn cầu.
Với mô hình này, đào tạo trực tuyến trở nên hoàn thiện hơn với chi phí tối thiểu, không bị hạn chế về điều kiện kinh tế, mang lại hiệu quả cao”. Theo Adlakha và cộng sự (2011), việc sử dụng Internet để cung cấp các sáng kiến đào tạo trực tuyến đã tạo ra những kỳ vọng trong thị trường kinh doanh và trong các tổ chức giáo dục đại học. đào tạo trực tuyến đã giúp các trường đại học mở rộng phạm vi tiếp cận địa lý hiện tại để trở thành những nhà cung cấp dịch vụ giáo dục toàn cầu. Với các lợi thế trong học tập như: Khóa học có thể được sắp xếp phù hợp với cá nhân và công việc chuyên môn, giảm chi phí và thời gian đi lại, người học có thể tùy chọn khóa học phù hợp mức độ kiến thức và mối quan tâm của họ, người học có thể học bất cứ nơi nào họ có thể truy cập vào máy tính và Internet, các hoạt động học tập đa dạng, người học phát triển các kỹ năng về máy tính và Internet, xây dựng sự tự tin và độc lập, khuyến khích người học chịu trách nhiệm về việc học tập của họ, đào tạo trực tuyến được khẳng định đóng vai trò quan trọng trong việc học tập suốt đời và giáo dục toàn cầu.
Beatrice (2011) cũng đồng quan điểm khi khẳng định, học tập theo phương thức đào tạo trực tuyến là một lựa chọn tốt với những lợi ích như: “Nội dung học tập được chia sẻ cho nhiều người; sinh 8 viên có thể đến từ nhiều nơi khác nhau; không cố định về địa điểm và thời gian; không bị giới hạn về thời gian theo học; người học tập trung vào kỹ năng nhận thức hơn là kỹ năng nghe và đọc sách, có hiểu biết về CNTT, sinh viên có động lực tự học cao và khóa học cho phép lựa chọn thời gian theo học” [17, tr. Chương trình 2030 của UNESCO về Phát triển bền vững nhận ra rằng sự phổ biến của CNTT và Truyền thông (ICT) có tiềm năng lớn để đẩy nhanh sự phát triển, thu hẹp sự phân chia và hỗ trợ phát triển xã hội tri thức dựa trên quyền con người, đạt được bình đẳng giới. Đối với UNESCO, việc phát triển các Hiệp hội tri thức bao gồm được dựa trên bốn nguyên tắc: Tự do biểu hiện và tự do thông tin; Tiếp cận phổ cập thông tin và kiến thức; Học tập chất lượng cho tất cả; và Tôn trọng sự đa dạng ngôn ngữ và văn hóa. Từ nguyên tắc này, NCTT và truyền thông rất quan trọng nhằm hướng tới đạt được 17 Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs).
Cụ thể, các mục tiêu liên quan đến ICT được đề cập bao gồm: Giáo dục (Mục tiêu 4), Bình đẳng giới (Mục tiêu 5), Cơ sở hạ tầng (Mục tiêu 9), Giảm sự bất bình đẳng trong và ngoài nước (Mục tiêu 10), Hòa bình, công lý và các thể chế dân chủ (Mục tiêu 16) và Quan hệ đối tác cho các mục tiêu (Mục tiêu 17). Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông hiệu quả trong môi trường giáo dục đại học góp phần chuyển đổi phương pháp giảng dạy và thúc đẩy tính tự chủ của sinh viên. Để đảm bảo công bằng và chất lượng đào tạo, đội ngũ giảng viên cần được trang bị đầy đủ năng lực tích hợp công nghệ vào hoạt động chuyên môn. Bên cạnh đó, việc khai thác hiệu quả các nguồn lực công nghệ thông tin và truyền thông còn hỗ trợ giáo viên định hướng sinh viên phát triển toàn diện các kỹ năng thế kỷ 21, bao gồm tư duy phản biện, sáng tạo, giải quyết vấn đề, hợp tác và giao tiếp hiệu quả.Đào tạo giáo viên và các chuyên gia liên quan là điều cần thiết nếu hiệu quả từ đầu tư vào ICT được thực hiện.
Phải đào tạo, bồi dưỡng giáo viên để phát triển các năng lực CNTT và truyền thông cần thiết nhằm đảm bảo rằng sinh viên của họ lĩnh hội được các kỹ năng liên quan, bao gồm năng lực về ứng dụng kỹ thuật số cho cuộc sống và công việc. Phiên bản 3 (2018) Khung năng lực CNTT và truyền thông dành cho giáo viên (ICT CFT) là công cụ then chốt định hướng đào tạo, bồi dưỡng ứng dụng công 9 nghệ thông tin trong giáo dục. Khung năng lực này hướng tới đội ngũ giảng viên cốt cán, cán bộ quản lý, hoạch định chính sách giáo dục, chuyên viên hỗ trợ, và các đơn vị phát triển chương trình. Triển khai hiệu quả đòi hỏi sự chỉ đạo quyết liệt từ Chính phủ, cơ quan quản lý giáo dục, các đơn vị phụ trách phát triển chuyên môn giáo viên, cùng lãnh đạo các trường học.
Sự phối hợp chặt chẽ là yếu tố tiên quyết cho thành công. Khung năng lực CNTT và truyền thông đối với nhà giáo đáp ứng yêu cầu của Chương trình phát triển bền vững đến năm 2030, được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua, nhấn mạnh sự thay đổi toàn cầu đối với việc xây dựng các Hiệp hội tri thức. Nó đề cập đến những phát triển về công nghệ và năng lực sư phạm giai đoạn gần đây trong lĩnh vực CNTT và giáo dục, kết hợp các nguyên tắc bao gồm không phân biệt đối xử, tiếp cận thông tin mở, công bằng và bình đẳng giới trong việc cung cấp giáo dục được hỗ trợ bởi công nghệ. Nhiều công trình nghiên cứu quốc tế, tiêu biểu như công trình của tác giả Anderson J., đã phân loại mức độ ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong giáo dục thành các giai đoạn: tích hợp vào chương trình giảng dạy, tích hợp vào phương pháp sư phạm, ứng dụng ban đầu, ứng dụng phổ biến, ứng dụng sâu rộng và chuyển đổi số.
Báo cáo năm 2010 của Project Tomorrow nhấn mạnh ba yếu tố then chốt để tối ưu hóa hiệu quả CNTT trong dạy học: học tập cộng tác, học tập linh hoạt và việc sử dụng thành thạo công cụ số bởi giáo viên và học sinh. Những nghiên cứu ở Việt Nam Đề án “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2016-2025” chính thức được thông qua theo Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ.Mục tiêu then chốt của Đề án là hiện đại hoá giáo dục bằng công nghệ thông tin, cụ thể hoá bằng việc đổi mới toàn diện: nội dung giảng dạy, phương pháp sư phạm, hệ thống kiểm tra – đánh giá, và hoạt động nghiên cứu khoa học. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đã và đang được các nhà nghiên cứu, chuyên gia giáo dục tích cực quan tâm, phản ánh qua hàng loạt hội thảo khoa học chuyên đề. Năm 2005, Khoa Công nghệ Thông tin, Đại học Bách khoa Hà 10 Nội, cùng Viện Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã hợp tác tổ chức hội thảo khoa học chuyên đề: "Ứng dụng và Nghiên cứu E-learning".
Tiếp nối đó, năm 2006, một hội thảo quy mô quốc gia về công nghệ thông tin và truyền thông diễn ra, do Đại học Sư phạm Hà Nội và Dự án Giáo dục Đại học phối hợp thực hiện. Hội thảo tập trung nghiên cứu, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông nhằm đổi mới phương pháp giảng dạy.