CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non Hiện nay trên thế giới, việc ứng dụng CNTT trong giáo dục đã được quan tâm từ rất lâu, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Các nước trong khu vực Châu Á như Thái Lan, Nhật Bản hay Singgapore thường xuyên ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và máy tính bảng được coi thay như bảng để giáo viên dạy học giúp cho lượng kiến thức được truyền tải dễ hơn, học sinh được tiếp xúc với công nghệ cùng với đó là có sự tư duy và rèn luyện kỹ năng cho trẻ học bài.
Ở 1 đất nước đông dân và nghèo nàn như Ấn Độ cũng đã được triển khai sử dụng máy tính trợ giúp việc dạy học trong lớp do tổ chức NCERT ở New Dehli đã thực hiện. Việc thực hiện đề án này là một sự chuyển hướng rất lớn trong việc thay đổi phương pháp dạy học ở quốc gia này. Ở Hàn Quốc, đã xây dựng chính quyền xã hội điện tử từ năm 2000. Hàn quốc đã thành lập Quỹ thúc đẩy CNTT trong đó có Ban thúc đẩy tin học hóa và Ban đặc biệt về chính phủ điện tử thuộc ban đổi mới chính phủ của Tổng thống phụ trách” [5].
Việc ứng dụng CNTT trong giáo dục ở mầm non cũng đã được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu. “Trong tạp chí Vol 9, số 2 (2014), hai tác giả Athanasios Drigas, Georgia Kokkalia với bài viết ICTs in Kindergarten” [11] đã khẳng định rằng: “Công nghệ thông tin hiện nay được công nhận là một công cụ có thể thúc đẩy sự hiểu biết và kinh nghiệm cho trẻ ở lứa tuổi mầm non. Hai tác giả đã tập trung vào khẳng định hiệu quả của việc ứng dụng 9 CNTT vào phát triển các kỹ năng cho trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo và đưa ra nhiều dẫn chứng về những nghiên cứu đã ủng hộ quan điểm cho rằng CNTT có thể giúp trẻ mẫu giáo nâng cao sự sáng tạo, kỹ năng vận động, cảm xúc xã hội, nhận thức, học chữ sớm, học toán sớm. Như vậy, CNTT đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu của chương trình giảng dạy ở các lĩnh vực và đối tượng của giáo dục mầm non” [11].
Những nghiên cứu về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giáo dục trẻ ở trường mầm non Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ những năm 1970. Tuy nhiên, ngành CNTT ở Việt Nam trong thời kỳ đó chưa được quan tâm đúng mức. Bước sang thời kỳ đổi mới, nhận thức được tầm quan trọng của CNTT mang lại, đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng nhấn mạnh tới việc đẩy mạnh CNTT như: Chỉ thị số 29/2001/CT- BGD&ĐT của Bộ 8 trưởng Bộ GD&ĐT, ngày 30/7/2001 nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong GD&ĐT ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học. Tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ GD&ĐT, kết nối Internet đến tất cả các cấp quản lý và cơ sở giáo dục, hình thành một mạng giáo dục” [5].
Trong những năm gần đây việc ứng dụng CNTT trong quản lý và dạy học ngày càng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Có nhiều hội nghị, hội thảo, nhiều đề tài khoa học đã nghiên cứu vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục như: + Hội thảo “chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo” ngày 9/12/2020 do Bộ trưởng Bộ giáo dục Phùng Xuân Nhạ và Bộ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng chủ trì hội nghị. + Hội thảo quốc gia về Chính phủ điện tử đã diễn ra ngày 26/07/2019 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Hội thảo diễn ra các phiên thảo luận với nhiều chuyên đề khác nhau: “Chuyển đổi số hoạt động quản lý Nhà nước góp phần 10 hoàn thiện Chính phủ số, mô hình, giải pháp công nghệ, cải cách giảm thủ tục hành chính góp phần thúc đẩy phát triển các dịch vụ công trực tuyến”.
+ Hội thảo toàn cảnh CNTT-TT Việt Nam lần thứ 24 năm 2019 diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là hội thảo thường niên lần thứ 18 do Hội Tin học TP.HCM (HCA) chủ trì tổ chức cùng Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM, được sự bảo trợ của Bộ Thông tin và truyền thông và Ủy ban nhân dân TP. Trong các Hội thảo, các nhà khoa học, các nhà quản lý đã mạnh dạn đưa ra các vấn đề nghiên cứu vị trí, tầm quan trọng, ứng dụng và phát triển CNTT đặc biệt là các giải pháp thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục. Tuy nhiên, việc đưa CNTT vào hoạt động giáo dục trẻ còn khó khăn, bất cập, có nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết: “Trình độ tin học cơ bản của đội ngũ giáo viên còn hạn chế, nhiều giáo viên còn lúng túng khi thiết kế bài giảng có ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ”.
Cho đến nay, ở các trường mầm non nói chung và Trường Mầm non Tuổi Thần Tiên, phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn nói riêng đã áp dụng rất nhiều biện pháp quản lý hoạt động giáo dục trẻ nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ. Việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục trẻ để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ tại trường mầm non Tuổi Thần Tiên là hết sức cần thiết. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Quản lý là sự tác động giữa chủ thể lên đối tượng.
Trong đó chủ thể quản lý là những tổ chức và cá nhân, những nhà quản lý cấp trên, còn đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý là những tổ chức, cá nhân, nhà quản lý cấp dưới, cũng như các tập thể, cá nhân người lao động. Sự tác động trong mối quan hệ quản lý mang tính hai chiều và được thực hiện thông qua các hoạt động tổ chức, lãnh đạo, lập kế hoạch, kiểm tra điều chỉnh. 11 Tùy theo nội dung, tính chất, đặc thù của mỗi loại lao động mà hoạt động quản lý có những phương pháp, cách thức riêng. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý: Theo F.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [23]. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức được vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Cũng theo đó, tác giả còn phân định rõ hơn về hoạt động quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Quản lý là một hoạt động có chủ đích, trong đó chủ thể quản lý sử dụng các chức năng của quản lí, các biện pháp quản lí tác động vào đối tượng quản lý nhằm thực hiện mục tiêu nhất định.
Từ những định nghĩa trên ta có thể khẳng định: Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, các nguyên tắc và các kỹ năng quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của mình. Chức năng của quản lý Chức năng quản lý là những hình thức thực hiện những tác động của chủ thể đến đối tượng quản lý thông qua những nhiệm vụ mà chủ thể cần 12 được thực hiện trong quá trình quản lý. Khi phân loại về chức năng quản lý, các nhà nghiên cứu lý luận về quản lý cũng có nhiều ý kiến khác nhau, tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều đề cập tới 4 chức năng chủ yếu đó là: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Quản lý giáo dục Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người và quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý giáo dục: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII cũng đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [15]. Theo tác giả Trần Kiểm, đối với cấp vi mô: “QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động” [20]. Trong quan điểm giáo dục hiện đại của các tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc, chỉ rõ: “QLGD là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở mọi cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của toàn bộ hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sự hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục về sự phát triển thể lực, trí lực và tâm lý của con người. Chất lượng của giáo dục chủ yếu do nhà trường tạo nên, bởi vậy khi nói đến quản lý giáo dục phải nói đến quản lý nhà trường cùng với hệ thống quản lý giáo dục” [10].
Từ những định nghĩa trên cho thấy: QLGD được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, có ý thức phù hợp với quy luật 13 khách quan của chủ thể quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.