CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học phổ thông Nền kinh tế thế giới đang phát triển theo hướng kinh tế tri thức. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục là yếu tố sống còn và quyết định sự tồn tại, phát triển của mỗi quốc gia.
Việc ứng dụng những công nghệ mới và giáo dục trong đó có CNTT chính là một trong những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng hoạt động dạy và học. Các nghiên cứu về vấn đề này có thể kể đến như Jef Peeraer và Trần Nữ Mai Thy (2011) với nghiên cứu “Ứng dụng Công nghệ thông tin trong giáo dục Việt Nam: Từ chính sách tới thực tế” đã điều tra vai trò của CNTT đối với quá trình đổi mới giáo dục ở Việt Nam, nghiên cứu khẳng định: “CNTT luôn được đề cao trong công cuộc đổi mới giáo dục như và một môn học cũng như là một công cụ quan trọng để đổi mới phương pháp dạy học”. Nghiên cứu đã cho thấy các nhà hoạch định chính sách đã rất quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và “học tập điện tử (eLearning) và xây dựng, sử dụng bài giảng điện tử được hướng tới như là kết quả cuối cùng của ứng dụng CNTT trong giáo dục” [40]. Nghiên cứu đánh giá mức độ ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học của giáo viên THPT đồng thời xác định mối tương quan giữa các yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ ứng dụng CNTT của giáo viên giảng dạy các môn khoa học tự nhiên bậc THPT.
Kết quả nghiên cứu sẽ cho 8 thấy: Thực trạng mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học của giáo viên giảng dạy các môn khoa học tự nhiên trên địa bàn tỉnh Bình Phước. Chỉ ra các yếu tố tác động và mức độ tác động của từng yếu tố đến mức độ ứng dụng CNTT trong dạy học của giáo viên giảng dạy các môn khoa học tự nhiên tỉnh Bình Phước. Từ đó nghiên cứu sẽ đề xuất một số gợi ý đối với Sở GD-ĐT, các trường THPT và giáo viên THPT, nhằm nâng cao mức độ ứng dụng CNTT trong HĐDH của giáo viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục [37]. Sở Giáo dục Tây Úc - Western Australia (2015) đã tiến hành khảo sát và đánh giá mức độ kiến thức, kỹ năng của giáo viên trên địa bàn Western Australia trong lĩnh vực ứng dụng CNTT phục vụ dạy học trong nghiên cứu “Teacher ICT skill”.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng năng lực sử dụng CNTT, nguồn lực của nhà trường về CNTT, thái độ và động lực của giáo viên, chính sách và sự quan tâm của lãnh đạo là những yếu tố chủ yếu tác động đến mức độ ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy cũng như tác động đến năng lực ứng dụng CNTT của giáo viên. Đỗ Thị Thùy (2019) trong nghiên cứu:“Thực trạng và biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở các trường tiểu học trên địa bàn quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh” đã chỉ rõ, ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường tiểu học là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục ở cấp TH. Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số biện pháp như: Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lí, đội ngũ giáo viên về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học; Xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại, đảm bảo điều kiện hỗ trợ cho hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học; Thu thập thông tin, tăng cường kiểm tra quá trình và 9 kết quả thực hiện việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trưởng tiểu học [32]. Nguyễn Quang Thuận (2019) với bài “Một số nguyên tắc ứng dụng CNTT trong dạy học môn GDCD theo định hướng theo định hướng phát triển năng lực ở trường THPT hiện nay”, đã đi đến kết luận: Trong quá trình dạy học môn GDCD theo định hướng tiếp cận nội dung ở trường THPT, CNTT có vai trò quan trọng trong việc giúp giáo viên đạt được các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, thái độ đối với học sinh.
Tuy nhiên, trong quá trình dạy học môn GDCD theo định hướng phát triển năng lực, việc ứng dụng CNTT phải hướng vào việc phát triển những năng lực chung, năng lực đặc thù của môn GDCD [42]. Như vậy, các kết quả nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học phổ thông đã được nhiều tác giả nghiên cứu về vai trò, xu hướng, về ứng dụng CNTT trong dạy học môn môn học cụ thể ở các cấp học và môn học cụ thể. Nhưng nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại trường trung học phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay với bối cảnh chuyển đổi số còn đang trống vắng, đặc biệt trên địa bàn thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Nghiên cứu về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông Cùng với vấn đề ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy học thì vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trong suốt những năm qua.
Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị tác giả tiếp cận được trong thực hiện đề tài luận văn như sau: Đỗ Đức Minh (2016) trong luận văn thạc sỹ “Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại các trường tiểu học thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ”, đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tiểu học, tiến hành phân tích đánh giá thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường tiểu học thành phố Việt Trì. Dựa 10 trên những hạn chế còn tồn tại, nghiên cứu đề xuất biện pháp quản lý việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học tại các trường tiểu học thành phố Việt Trì – tỉnh Phú Thọ trong thời gian đến năm 2020 nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đối với cấp tiểu học trên địa bàn [36]. Trần Minh Hùng (2019) trong bài báo “Các biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Trung học Phổ thông”, đã đề xuất một số biện pháp quản lý là: Nâng cao nhận cho đội ngũ giáo viên; đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ; tổ chức, chỉ đạo các tổ chuyên môn ứng dụng CNTT trong đổi mới phương pháp dạy học; đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị CNTT và tổ chức xây dựng môi trường dạy học đa phương tiện [29]. Nguyễn Đăng Khoa (2019) trong nghiên cứu “Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại các trường tiểu học Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ”, đã chỉ ra trong quản lý vẫn còn nhiều khó khăn, một số biện pháp quản lý chưa phát huy hết hiệu quả như: Quản lý ứng dụng CNTT còn mang tính hành chính, công tác bồi dưỡng chưa có kế hoạch kịp thời; Việc thực hiện các chức năng quản lý đội ngũ CBQL còn một số hạn chế, nhất là trong công tác kiểm tra, đánh giá; Việc quản lý đảm bảo điều kiện ứng dụng CNTT trong dạy học chưa được quan tâm đúng mức,… [34].
Trần Lê Duy Khiêm (2020) thực hiện đề tài luận văn “Thực trạng quản lý việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy của Hiệu trưởng Trường THPT tại Cần Thơ”, đã đi đến kết luận: các chủ thể quản lý đã nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT, đã xây dựng kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy… Tuy nhiên, trong quản lý còn tồn tại hạn chế khi mức độ thực hiện các chức năng quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học không thường xuyên và ít hiệu quả. Với những hạn chế còn tồn tại, luận văn đã đề xuất biện pháp tăng cường quản lý ứng dụng CNTT vào dạy học tại các trường THPT tại Cần Thơ trong thời gian tới [33]. Các nghiên cứu về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học 11 ở trường phổ thông trong thời gian qua đã được triển khai, với việc tập trung và đánh giá những thành công, hạn chế và đề xuất biện pháp quản lý ở các trường phổ thông. Tuy nhiên, trong bối cảnh triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018, trong bối cảnh chuyển đổi số bắt đầu được triển khai trong giáo dục thì việc nghiên cứu vấn đề này trong phạm vi các trường THPT thuộc thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La còn chưa được đặt ra, nhưng cần triển khai để tìm kiếm những biện pháp quản lý phù hợp cho địa bàn nghiên cứu và tham mưu cho Sơ GD&ĐT cùng các nhà trường tăng cường hiệu quả quản lý.
Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm dạy học Trần Kiểm (2004) cho rằng: “Dạy học là toàn bộ các thao tác có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người” [35]. Hà Thế Ngữ (2001) dựa trên quan điểm phát triển, nhất là phát triển về khoa học và công nghệ cho rằng: “Dạy học là một quá trình gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học” [44]. Theo Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn (2007), “Dạy học bao gồm hai hoạt động: hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh.
Hoạt động dạy: Hoạt động dạy với vai trò chủ đạo của giáo viên là sự tổ chức, điều khiển tối ưu quá trình truyền đạt nội dung hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách khoa học cho học sinh tiếp thu (lĩnh hội). Hoạt động học: Hoạt động học với vai trò chủ động của học sinh là sự tự điều khiển tối ưu quá trình tiếp thu (lĩnh hội) một cách tự giác, tích cực, tự lực nội dung hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà giáo viên truyền đạt nhằm phát triển và hình thành nhân cách học 12 sinh” [31].