CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC TRẺ TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Trong lĩnh vực QLGD, nhiều tác giả đã nghiên cứu về CBQL các cấp học, bậc học. Các công trình nghiên cứu, tài liệu về QLGD nói chung và QLGD MN nói riêng được công bố.
Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước đi sâu vào nghiên cứu QLGD nói chung và đã đưa ra các khái niệm cơ bản về QLGD, các chức năng QLGD, quản lý nhà trường, nội dung và phương pháp quản lý nhà trường. Việc “Lấy trẻ làm trung tâm” và “Tất cả cho trẻ em” được đặt lên đầu tiên của các nền giáo dục nước ngoài. Trong hoạt động quản lý của nhà trường, nhà quản lý và nhà giáo dục phối hợp chặt chẽ với nhau, cùng chung một tiếng nói. Với kinh nghiệm trong việc quản lý nhà trường, V.
Xukhomlinxki, trong tác phẩm của cuộc đời mình “Vấn đề quản lý và lãnh đạo nhà trường” đã nói lên tầm quan trọng của một hiệu trưởng trong công tác quản lý nhà trường. Hiệu trưởng là người chỉ đạo các hoạt động quản lý, phối hợp với các hiệu phó và đội ngũ giáo viên, nhân viên. Tác giả nhấn mạnh tính quản lý tập thể trong các hoạt động của trường mầm non. Tác giả cho rằng để nâng cao chất lượng quản lý, chuyên môn nghiệp vụ giáo viên thì cần tổ chức các hội thảo khoa học.
Thông qua hội thảo, giáo viên có những điều kiện trao đổi kinh nghiệm về chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao trình độ của mình [Dt 29]. Nghiên cứu của nhóm tác giả Praserd Sawaddemongkol, Kanchana Boonphak, Narong Pimsarn Viện Nghiên cứu King Mongkut – King Mongkut’s Institute of Technology - Ladkrabang, Thailand đã chỉ ra có 9 yếu tố có thể ảnh hưởng tích cực tới công tác quản lý của cơ sở giáo dục mầm non, bao gồm: sự lãnh đạo của ban giám hiệu, kiến thức và kỹ năng của giáo viên, mô hình quản lý trường học, hệ thống thông tin phục vụ cho công tác quản lý, sự tham gia của phụ huynh, sự sẵn sàng của cơ sở vật chất, môi trường làm việc, địa điểm của nhà trường và khả năng 6 ngân sách. Trong các yếu tố này, có 7 yếu tố được xác định có vai trò quan trọng hơn 2 yếu tố còn lại đó là: kiến thức và kỹ năng của giáo viên, mô hình quản lý trường học, hệ thống thông tin phục vụ cho công tác quản lý, sự tham gia của phụ huynh, sự sẵn sàng của cơ sở vật chất, vị trí của trường và khả năng ngân sách. Như vậy, nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một hệ thống quản lý đúng đắn, có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin có tác dụng lớn hơn các hành động cụ thể của hoạt động quản lý, lãnh đạo trong ban giám hiệu.
Điều này có thể giải thích được là do trong một bộ máy quản lý đã được xây dựng hoàn chỉnh, vai trò của đội ngũ lãnh đạo, điều hành khi đó chủ yếu là công tác định hướng, giám sát, kiểm tra để đảm bảo mọi hoạt động bên trong nhà trường được thực hiện đúng đắn theo kế hoạch đã được xác định trước. Zepeda, Varela, & Morales (2004) nghiên cứu cho rằng sự tham gia của phụ huynh có tác động tích cực đối với sự thành công của quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục. Sự tham gia của cha mẹ trong hoạt động giáo dục được hiểu là cung cấp cho cha mẹ các kiến thức và kỹ năng thích hợp để chăm sóc con cái một cách đầy đủ và phối hợp với nhà trường để truyền cho trẻ những phẩm chất mong muốn và thói quen bền vững. Đây là điểm mới nếu so với quan điểm giáo dục ở Việt Nam – Khi đến trường cô giáo như mẹ hiền – tức là coi giáo viên dạy trẻ là một sự thay thế người mẹ ở không gian trường học.
Davies và Ellison (2005) xác định vai trò của lãnh đạo trường học trong quản lý hoạt động dạy học là các hiệu trưởng không quản lý việc học tập mà là quản lý, lãnh đạo một cách linh hoạt về giáo viên, quản lý nguồn nhân lực và tài chính. Khi có sự lãnh đạo tốt, tạo điều kiện giáo viên cảm thấy hứng thú hơn trong việc dạy, họ được phát triển khả năng, ý tưởng mới mẻ và áp dụng chúng vào quá trình dạy học. Bên cạnh đó, các yếu tố về cơ sở vật chất và ngân sách cũng tạo nên sự khác biệt trong quá trình xây dựng, phát triển của mô hình mầm non bởi đây là nền tảng để có thể thực hiện được các hoạt động đào tạo tiên tiến, thu hút sự tham gia của học sinh. Nghiên cứu trong nước Hiện nay, Việt Nam thực hiện chính sách Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong thực hiện các chính sách phát triển GDMN; trong đó ưu tiên thành lập và xây dựng mới các cơ sở GDMN công lập vùng nông thôn, nơi khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và các xã phường có mức sống thấp của thành phố, thị xã.
Trên bình diện nghiên cứu, trong những năm gần đây có nhiều đề tài nghiên cứu về chuyên ngành QLGD, trong đó có nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý GDMN và GDMN như: Những biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ của trường mầm non (Phạm Thị Châu, trường Cao đẳng sư phạm nhà trẻ - Mẫu giáo TW1 năm 1995) đề tài đã đề cập một số biện pháp chỉ đạo chuyên môn của Ban giám hiệu và các cấp quản lý nhằm góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ. Tuy vậy đề tài chưa chú ý tập trung các biện pháp có tính toàn diện mà Hiệu trưởng trường mầm non phải vận dụng để nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ. Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hòa (2007) đã mô tả khá sắc nét về phát triển GDMN đất nước phát triển như Nhật Bản. Nhật Bản là một nước có nền kinh tế lớn và phát triển nhất trên thế giới.
Một trong những yếu tố góp phần phát triển của Nhật Bản là quan tâm, đầu tư cho GD, trong đó có GDMN. GDMN của Nhật Bản bắt đầu từ 11/1.879 tại trường đại học Ochanomizu (trước đây còn gọi là trường Sư phạm nữ Nhật Bản cấp cao) đã mở trường mẫu giáo đầu tiên ở Nhật, đánh dấu sự khởi đầu cho ngành GDMN của nước này. Người đặt nền tảng và được mệnh danh là “Ông tổ” của GDMN Nhật Bản là nhà GD nổi tiếng Kurahashi Sôdô, ông cho rằng: “Hãy nuôi trẻ bằng tình cảm của mình”, “Dạy tâm trước khi dạy tính”, đặc biệt chú ý đến trò chơi giữ vai trò trung tâm trong GDMN. Có thể thấy, GDMN tại Nhật với nguyên tắc là “Lấy trẻ làm trung tâm” ở Nhật Bản được kết hợp giữa: tưởng đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu bản năng của trẻ.
Trong các hoạt động GD trẻ thì đứa trẻ luôn được coi là trung tâm, trẻ chính là chủ thể tích cực trong các hoạt động của chúng ở trường MN. Các công trình nghiên cứu một phần đã đề cập đến vị trí vai trò của CBQL, 8 của HT trường mầm non. Những năm gần đây, GDMN được quan tâm nhiều hơn, vai trò QL của HT trường MN cũng được đề cập ở một số công trình cụ thể: Tác giả Đặng Hồng Phương (2017) cũng nghiên cứu thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục mầm non Việt Nam trong thời kì hội nhập quốc tế. Qua đề tài tác giả nêu lên thực trạng quản lý giáo dục tại mô hình trường mầm non công lập và các biện pháp phù hợp với thực tiễn tại trường mầm non mình nghiên cứu.
Có thể thấy ở các quốc gia, khoa học quản lý được áp dụng triệt để và hiệu quả vào hoạt động quản lý giáo dục mầm non với cách thức quản lý hiện đại, tiên tiến với quan điểm ưu tiên xây dựng bộ máy, quy trình hoạt động được chuẩn hóa, ưu tiên việc lập và thực hiện theo kế hoạch.Các nghiên cứu trên đã nghiên cứu về biện pháp, hoạt động giáo dục trẻ em mầm non tại các trường mầm non nói chung. Các tác giả cũng đưa ra những biện pháp tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục trẻ của riêng mình, tuy nhiên chỉ dựa trên góc độ tổng quát, chưa nêu cụ thể ở từng trường, từng địa phương. Nhận định của tác giả Vấn đề công tác quản lý hoạt động giáo dục trẻ mầm non đã được nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau. Trong các công trình nghiên cứu, các tác giả đã chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục trẻ.
Đồng thời cũng đề ra một số biện pháp tổ chức, quản lý hoạt động giáo dục giáo dục trẻ. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định hoạt động giáo dục trẻ có một ý nghĩa và vai trò rất quan trọng đối với nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục trẻ theo khoa học để giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, thẩm mỹ và tình cảm xã hội, là nhân tố trọng yếu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non. Đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, một địa bàn có nhiều có đặc điểm kinh tế, văn hóa xã hội của tỉnh miền núi. Vì vậy, việc thực hiện đề tài này sẽ không trùng lặp, đảm bảo tính độc lập và có ý nghĩa khoa và thực tiễn lớn đối với việc nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục trẻ tại các trường mầm non thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái nói riêng.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý giáo dục 1. Quản lý: QL là một khái niệm rất rộng, nó được sử dụng trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội khác nhau. Do đó khi nói về QL, các nhà khoa học đã có nhiều khái niệm khác nhau và tư tưởng QL cũng khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2004) thì: “QL là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những điều kiện nhất định” [35, tr. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2010) cho rằng: “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”.