Chương 1 C SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN MẦM NON THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC TRONG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định trong quá trình phát triển KT-XH của mỗi quốc gia. Các nghiên cứu đều cho rằng yếu tố cấu thành của sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia là chất lượng của lực lượng lao động và giáo dục góp phần vào tăng trưởng kinh tế thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Các nghiên cứu này đã giúp cho chính phủ các nước triển khai chiến lược phát triển giáo dục. Nhà xã hội học người Mỹ Leonard Nadler, người đã cho rằng phát triển nguồn nhân lực (Developing Human resources) [67], gồm 3 nhiệm vụ chính: giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực, sử dụng nguồn nhân lực và tạo môi trường thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển. Trong công trình “Quản lý chiến lược đào tạo ở các nước đang phát triển”, các tác giả John E.Kerrigan và Jeffs.Luke đã phân tích và nêu ra những phương pháp tiếp cận về đào tạo nguồn nhân lực trong đó đề cao phương thức đào tạo lại vị trí làm việc cũng như đa dạng hóa mục tiêu đào tạo trong điều kiện nhu cầu đa dạng của thị trường lao động. Trong cuốn “Sự thịnh vượng của các quốc gia” [54], Adam Smith đã cho rằng, sự tăng trưởng của cải chủ yếu qua hai con đường: Một là, thông qua phân công lao động để nâng cao năng suất lao động; Hai là, tăng số người lao động mang tính chất sản xuất, phân công dẫn đến việc sử dụng máy móc, sự gia tăng số người lao động có tính chất sản xuất đều cần đến đầu tư một lượng vốn lớn.
Vì vậy, tích lũy vốn con người là nhân tố quyết định sản xuất ra của cải vật chất. Stivastava M/P [81] cho rằng, nguồn nhân lực là toàn bộ vốn nhân lực; vốn nhân lực là con người được nhìn nhận dưới dạng là một nguồn vốn đặc biệt của quá trình sản xuất, là một dạng của cải có thể làm gia tăng sự giàu có của một quốc gia; nguồn vốn nhân lực đó bao gồm những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm mà người đó học tập tích lũy được nhờ vào quá trình lao động sản xuất; các chi phí về giáo dục - đào tạo, y tế. nhằm nâng cao khả năng, năng lực của nguồn nhân lực được xem như là những chi phí đầu vào của sản xuất. Từ cách tiếp cận như vậy, tác giả đã chỉ ra các lợi ích thiết thực của nguồn nhân lực nếu chúng ta biết đầu tư đó là: 1) Vốn nhân lực là loại vốn đặc biệt, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai, cho nên đầu tư vào nguồn nhân lực sẽ có tỷ lệ thu hồi vốn cao, hơn nữa khi nguồn vốn này được sử dụng nhiều thì giá trị gia tăng càng lớn, sẽ tạo ra nhiều của cải và mang đến sự phồn thịnh cho xã hội; 2) Khác với các nguồn vốn khác, vốn nhân lực không mang đặc điểm có tính quy luật như các nguồn vốn khác: Khấu hao vốn đã đầu tư vào 9 các tài sản và loại hình vật chất khác; vốn nhân lực sau khi đã đầu tư thì nó sẽ tự duy trì và phát triển mà không tạo ra áp lực về khối lượng vốn cần huy động trong khoảng thời gian ngắn; là loại vốn có kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm và khả năng sáng tạo cao.
Do đó, đầu tư vào vốn nhân lực thì hiệu ứng lan tỏa sẽ rất lớn mà không có nguồn vốn nào có thể sánh kịp. Với cách tiếp cận trên, tác giả đưa ra các gợi mở để luận án phân tích yêu cầu của nguồn nhân lực, nhất là chất lượng nguồn nhân lực để phát triển kinh tế. Rothwell [53] đã luận giải về quan niệm "Con người là tài sản quý nhất". Từ đây, các tác giả cũng định hướng giải pháp cho chúng ta khi muốn khai thác hiệu quả nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phải "Để tối đa hóa thành tố con người, phải thiết kế cơ cấu của tổ chức, hệ thống kế hoạch và kiểm soát, quản lý nguồn nhân lực và văn hóa.
hệ thống và các chính sách được xây dựng cho việc tuyển dụng, duy trì, đào tạo và phát triển nghề nghiệp" [53, tr. Trong công trình này, các tác giả đã dẫn lời của Peter Drucker rằng: "Tăng trưởng kinh tế có thể chỉ đến từ sự gia tăng liên tục và mạnh mẽ năng suất lao động của nguồn nhân lực, trong đó các quốc gia phát triển vẫn có thể cạnh tranh (và họ sẽ tiếp tục duy trì được vị thế này trong vài thập kỷ nữa); về tri thức và nhân công có tri thức" [53, tr.72] để thấy được tầm quan trọng của việc tăng cường vốn tri thức. Ở Việt Nam, đào tạo nhân lực trong cơ chế thị trường được đề cập đến muộn hơn, chỉ khi nước ta bắt đầu công cuộc đổi mới và chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương đổi mới đào tạo phát triển nhân lực cũng như quản lý đào tạo từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây sang quản lý theo cơ chế thị trường, gắn đào tạo với sử dụng.
Chiến lược phát triển KT-XH 2011-2020 đã chỉ rõ “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng KH-CN, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững.Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức. [7] Lưu Tiểu Bình [5], cho rằng trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, nguồn nhân lực đóng vai trò vô cùng quan trọng; việc phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lựcCLC có tầm quan trọng đặc biệt. Vì thế, để khai thác và phát huy nguồn nhân lực các quốc gia cần phải có lý luận và phương pháp đánh giá đúng đắn; đồng thời nêu lên một số vấn đề lý luận và phương pháp đánh giá nguồn nhân lực. Nguyễn Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân [33] đã đi sâu phân tích những cơ sở khoa học và các yếu tố tác động đến quản lý nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại 10 hóa ở nước ta.
Đoàn Văn Khái [30] đã làm rõ vấn đề chung về công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đồng thời làm rõ vai trò của nguồn lực con người đó là yếu tố quyết định đến sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trên cơ sở đó, tác giả đã nêu ra những giải pháp nhằm khai thác hợp lý, có hiệu quả nguồn lực con người; nhóm giải pháp về phát triển nguồn lực con người, nhóm giải pháp về xây dựng môi trường xã hội thuận lợi nhằm khai thác có hiệu quả nguồn lực con người phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển đất nước. Đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX-05-10 của Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha (đồng chủ biên) cũng là một công trình nghiên cứu khoa học có giá trị cả về lý luận và thực tiễn trong công tác đào tạo nhân lực, đặc biệt là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Trong công trình của mình, các tác giả đã xây dựng khung lý luận về đào tạo nhân lực, từ mối quan hệ giữa đào tạo nhân lực với chuyển dịch cơ cấu lao động trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xu hướng toàn cầu hóa và quốc tế hóa; đến tiếp cận hệ thống về đào tạo nhân lực và đào tạo nhân lực trong cơ chế thị trường; phân tích thực trạng lực lượng lao động và đào tạo nhân lực các trình độ.
Đồng thời các tác giả đưa ra các nhóm giải pháp về đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước trong nền kinh thế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế [9]. Nghiên cứu vấn đề phát triển đội ngũ giáo viên và giáo viên mầm non Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, giáo viên có vai trò rất lớn, một giáo viên biết truyền cảm hứng và có nhiều thông tin là yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng rõ nét đến thành tích học tập của học sinh trong xu hướng giáo dục lấy người học làm trung tâm hiện nay. Các nghiên cứu đã chỉ ra người giáo viên là ai? Họ có những chức năng, nhiệm vụ gì trong hệ thống giáo dụcvà đào tạo? Sự khác biệt giữa các chủ thể khác trong quá trình đào tạo như thế nào? và yếu tố nào tạo ra sự khác biệt đó? Lee Meng Foon [27] đã đề cập đến những thay đổi phức tạp xảy ra trong một xã hội do toàn cầu hóa, đã ảnh hưởng đến chính sách và thủ tục theo nhiều cách. Để đạt được những thành công về xã hội, học thuật trong thế kỷ 21 đòi hỏi phải có thay đổi trong giáo dục và trường học.
Trường học hiệu quả phải có những nhà giáo tốt và có tâm với nghề, người giáo viên phải có năng lực nghề nghiệp tốt trong giảng dạy và giáo dục, dễ thích ứng với thời đại. Vì vậy công tác đào tạo đội ngũ giáo viên phải được xem xét là một giải pháp nghiêm túc và có hiệu quả. Tổng kết của UNESCO năm 2005 đã nêu rõ vai trò của người giáo viên: Người giáo viên phải đảm nhận nhiều chức năng hơn so với trước và có trách nhiệm nặng hơn trong việc lựa chọn các nội dung dạy học và giáo dục. Vai trò của người giáo viên đang chuyển mạnh từ chỗ truyền thụ kiến thức sang tổ chức việc học tập 11 của học sinh; Coi trọng hơn việc cá biệt hóa trong học tập của học sinh và thay đổi tính chất trong quan hệ thầy trò.