CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ PHÁT TRIỂN GIÁO VIÊN MÃM NON ĐÁP ỨNG CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về đội ngũ giảo viên mầm non Giáo viên mầm non là nguồn nhân lực cho nền GDMN góp phần quyết định nhất chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng - GD trẻ ở các trường mầm non, một bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Vì vậy, trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học GD đã có nhiều công trình nghiên cứu về GVMN: Vai trò, mô hình nhân cách người GVMN, đặc điếm lao động nghề nghiệp người GVMN, các phẩm chất và năng lực cần thiết để đáp ứng yêu cầu chăm sóc nuôi dưỡng GD trẻ mầm non,.
Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu tiêu biếu thế hiện trong các đề tài khoa học và bài báo khoa hoa học như sau: Tác giả Lam Hồng và nhóm tác giả nghiên cứu đề tài khoa học, (2006) “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chuẩn GVMN đáp ứng yêu cầu đôi mới của GDMN' đã phân tích những vấn đề lý luận về cách tiếp cận xây dựng chuẩn nghề nghiệp GVMN. Làm rõ cơ sở thực tiễn trong cách tiếp cận xây dựng chuẩn nghề nghiệp GVMN. Làm rõ cơ sở thực tiễn trong tiếp cận xây dựng chuẩn nghê nghiệp GVMN trong thời kỳ đối mới; nghề dậy học và nhân cách của GVMN trong thời kỳ đổi mới; đổi mới GVMN hiện nay; phân tích hoạt động lao động cùa GVMN khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trình đổi mới GDMN. Hội thảo về xây dựng mô hình nhân cách GVMN trong thời kỳ hội nhập quốc tế năm 2012 một số tác giả đã tập trung vào 06 nội dung chính: - Quan điểm về nhân cách và đặc trưng nhân cách GVMN - Những yếu tố ảnh hưởng tới nhân cách GVMN trong giai đoạn hiện nay.
- Những bất cập trong đào tạo GVMN ở các trường sư phạm hiện nay. - Vấn đề tổ chức, quản lý, sử dụng GVMN tại các cơ sở GDMN hiện nay. - Vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho GD và ĐT nói chung và GDMN nói riêng đáp ứng yêu cầu phát triền của đất nước trong giai đoạn hiện nay. - Đề xuất mô hình nhân cách GVMN trong thời kỳ hội nhập quốc tế: Khả năng tiềm năng, kỹ năng hoạt động nghề nghiệp; nếp sống thói quen và cách 5 phẩm chất nhân cách,.
Theo tác giả Nguyễn Thị Như Mai, “Nhận thức về sự cần thiết của sáng tạo trong nhân cách và thực trạng sáng tạo trong chăm sóc - giáo dục trẻ em của GVMN' đã nêu: Thời đại hiện nay đòi hỏi con người năng động, sáng tạo. Để tạo ra lớp trẻ có khả năng sáng tạo thì bản thân người GVMN phải nhận thức được tầm quan trọng của năng lực sáng tạo trong nhân cách, phải nồ lực sáng tạo trong quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ,. Sáng tạo là yếu tố quan trọng hàng đầu cùa nhân cách người lao động hiện đại. Vì vậy, đào tạo những GVMN có năng lực sáng tạo là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Lê Thị Phương Thảo (2013), “Biện pháp phát triển đội ngũ giảo viên tiêu học huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đáp ứng chuẩn nghề nghiệp ”, đã phân tích rõ thực trạng giáo viên và công tác phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học trên địa bàn, đồng thời đề xuất được một số biện pháp cần thiết, khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Nguyễn Thị Thu Hà (2015), “Quản lý hoạt động bồi dưỡng đội ngữ giảo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ở trường trung học cơ sở Nguyền Huy Tưởng, Đông Anh, Hà Nội”, Luận văn đã nghiên cứu lý luận về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên và đề xuất các biện pháp bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đáp ứng các tiêu chuấn, tiêu chí nghề nghiệp trong giai đoạn thực hiện đổi mới giáo dục hiện nay. Phạm Văn Hòa (2017), “Phát triển đội ngũ giáo viên trường dạy nghề quân đội theo tiếp cận năng lực" luận án tiến sĩ ngành Quản lý giáo dục. Luận án đã tập trung đánh giá về đội ngũ giáo viên trong trường dạy nghề quân đội theo hướng tiếp cận năng lực.
Qua đó, tác giả chỉ ra những điếm mạnh, điểm yếu và đề xuất giải pháp để phát triển đội ngũ giáo viên này. Có thể nói, các nghiên cứu về GVMN nói trên sẽ là cơ sở để đưa ra các vấn đề phát triển đội ngũ GVMN theo chuẩn nghề nghiệp. Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp - về phát triển đội ngũ giảo viên mầm non: Chất lượng của giáo dục đại học nói chung và giáo dục mầm non nói riêng tốt hay chưa đạt yêu cầu là do nhiều điều kiện mang lại, tuy nhiên yếu tố 6 có tính chất quyết định đến chất lượng giáo dục là do đội ngũ GV, sự phát triển của GV. Có thể nói, vấn đề phát triển đội ngũ GV là trung tâm của các chương trình cải cách, đối mới giáo dục của các nước trên thế giới.
Phát triển giáo viên các trường mầm non hiện nay được nhiều nước trên thế giới thực hiện theo nhiều cách khác nhau. Fumiko Shinohara (2004 “ICTs in Teachers Training, UNESCO”); Harry Kwa (2004 “Information Technology Training Program for Student and Teachers”); David C. đã nghiên cứu, cũng như phát triền đội ngũ GV dưới góc độ nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực và chú trọng tới chất lượng GV; đề cao phát triển bền vững và sự thích ứng nhanh của GV trước tiến trình phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế. [dẫn theo 16, tr.
Tại hội thảo Cambridge về nhà giáo cho thế kỷ 21, người ta đã đặt ra 5 yêu cầu cốt lõi đối với nhà giáo là: Kiến thức, kỹ năng sư phạm, phẩm chất, thái độ và niềm tin. Tại “Diễn đàn Giáo dục cho mọi người”, do UNESCO (Dakar, Senégal Tháng 4/2000), coi chất lượng giáo viên là một trong mười yếu tố cấu thành chất lượng giáo dục [35, tr. Đối với Nhật Bản, họ rất quan tâm và chú trọng tới công tác phát triển đội ngũ giáo viên. Luật Giáo dục Nhật Bản quy định: “Địa vị xã hội của giáo viên phải được tôn trọng, sự đối xử đúng đắn và phù hợp với giáo viên phải được đảm bảo”.
Đe trở thành giáo viên phổ thông phải có chứng chỉ sư phạm và có quy chế bồi dưỡng bắt buộc hàng năm đối với giáo viên phồ thông mới vào nghề. Giáo viên đương nhiệm được bồi dưỡng bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phương thức đối mới, đa dạng. Chính sách đãi ngộ GV chù yếu thể hiện qua lương, phụ cấp, trợ cấp. Mức tăng lương dựa vào thành tích và thâm niên công tác, trung bình 1 năm hoặc 2 năm một lần.
Giáo viên trường công ở Nhật Bản được hưởng nhiều loại trợ cấp, quan trọng nhất là tiền thưởng 3 lần trong năm và cao gấp 5,2 lần lương tháng [dần theo 16, tr. Đối với Cộng hòa Pháp - quốc gia có nền giáo dục phát triển cao thuộc cộng đồng Châu Âu, có quy định về tuyển dụng GV phải thông qua thi tuyển (vào ngạch công chức giáo viên). Các cơ sở giáo dục công lập trực thuộc Bộ có thể tuyển dụng GV cộng tác (Giáo viên hợp đồng) để giảng dạy các môn về kỳ 7 thuật và dạy nghê. Giáo viên của cơ sở giáo dục tư thục cũng được hưởng chính sách nâng ngạch bậc như GV các cơ sở giáo dục công lập.
về chế độ ưu đãi GV, Luật giáo dục Cộng hòa Pháp có quy định: Giáo viên chính thức hoặc thực tập sinh có quyền có nhà ở hoặc có phụ cấp nhà ở, lương chính của giáo viên trung học và tương đương, ngoài lương theo văn bằng còn có lương theo cấp bậc và trợ cấp bù giá [dẫn theo 31, tr. Raja Roy Singh đã nghiên cứu về phát triển đội ngũ GV thông qua việc nghiên cứu xác định vai trò, vị trí của GV trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp và nội dung phát triền đội ngũ GV: Giáo viên không chỉ là nhà chuyên môn mà còn là nhà giáo dục, nhà khoa học, người tư vấn, hướng dẫn, người học tập suốt đời [dẫn theo 18, tr. 7] Như vậy, nhiều nước trên thế giới đều nhận thức sâu sắc vai trò then chốt của giáo dục, đào tạo (đặc biệt là GV) đối với sự phát triển của đất nước, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục sẽ quyết định nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội. ớ Việt Nam, đồi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo là một trong những biện pháp để nâng cao chất lượng nguồn lực lao động.
Để đổi mới giáo dục, đào tạo đạt hiệu quả thì việc phát triển đội nhà giáo trở nên rất quan trọng và cấp thiết hiện nay. Trong những năm vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết, chế độ chính sách để tập trung phát triển đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng của đội ngũ này để đáp ứng yêu cầu của thực tiền giáo dục đào tạo ở Việt Nam. Nghị quyết TW khóa VIII đã nêu:“Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng như cán bộ quản lý giáo dục” [dẫn theo 36], Trong chiến lược phát triền giáo dục giai đoạn năm 2011 - 2020 của Chính phủ cũng đã nêu rõ: “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục” [dẫn theo 37], Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định: Đổi mới 8 căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quổc tế, trong đó, đối mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt. Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2001-2010 đã xác định mục tiêu, các nhiệm vụ chủ yếu, các giải pháp cho việc xây dựng và phát triền đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020 đã đề ra các giải pháp phát triển giáo dục, trong đó có giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, trong giải pháp này khẳng định: .