Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA GIÁO VIÊN TRƯỜNG MẦM NON THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu Năm 2007, tổ chức UNESCO đã xuất bản cuốn “Nền tảng vững chắc chăm sóc và giáo dục mầm non”. Cuốn sách đã phân tích, so sánh và đối chiếu trình độ được đào tạo của giáo viên mầm non giữa các Quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong đó ở Hoa Kỳ: Chính phủ tại các bang và liên bang quy định các trường mầm non phải sử dụng chương trình liên kết với các chuẩn tiểu học và yêu cầu tỷ lệ GVMN/ trẻ là 1/10 và hoạt động trong tất cả các tháng của một năm học; ở Nhật Bản: Việc đào tạo GVMN do các trường Đại học đảm nhiệm và mỗi trường được tự chủ xây dựng chương trình đào tạo GVMN của riêng mình.
Nhật Bản có các hệ: Đại học 4 năm và sau đại học Nhật Bản yêu cầu GVMN phải trải qua kỳ thi nghiệp vụ sư phạm trước khi làm công tác giảng dạy; ở Thái Lan: Chính phủ thực hiện cải cách chính sách phát triển đội ngũ GVMN đã trực tiếp nâng cao chất lượng và hiệu quả của bậc học GVMN. Abdalhamid Alahmad, Tatjana Stamenkovska, János Gyori (2021), trong công trình "Chuẩn bị cho giáo viên tương lai những kỹ năng giáo dục ở thế kỷ 21", nhấn mạnh việc giáo viên cần biết các mô hình học tập cá nhân, hiểu động cơ và cảm xúc của học sinh; có nền tảng kiến thức phong phú; có kỹ năng thiết kế, lãnh đạo, quản lý và lập kế hoạch môi trường học tập; sử dụng hiệu quả các kỹ năng nhận thức và siêu nhận thức; phải thành thạo trong việc sử dụng công nghệ [38]. Như vậy, Chính phủ và ngành GD&ĐT của các nước rất quan tâm vấn đề PTNL GVMN, đã chỉ đạo và xây dựng theo hướng chuẩn hóa và ngày càng nâng cao yêu cầu đối với GVMN, tăng thời gian đào tạo và bồi dưỡng; 6 chú trọng đến các kỹ năng sư phạm của đội ngũ GVMN. Đồng thời vấn đề PTNL GVMN cũng thu hút được sự tham gia nghiên cứu của nhiều học giả, nhà khoa học, nhà quản lý và các đơn vị, tổ chức trong việc nghiên cứu các vấn đề của bậc học giáo dục mầm non.
Ở Việt Nam, từ xa xưa cha ông ta đã nói "Uốn cây từ thuở còn non, dạy con từ thuở con còn ngây thơ", câu nói đó cho thấy từ lâu giáo dục mầm non đã được quan tâm và đề cao vai trò, sau này các nhà nghiên cứu về khoa học giáo dục cũng từng khẳng định "Phi mầm non bất thành nhân cách". Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội thì giáo dục nói chung, giáo dục mầm non nói riêng đang được coi trọng phát triển để tạo tiền cho các bậc học tiếp theo. Chất lượng giáo dục mầm non có tốt hay không phụ thuộc lớn vào đội ngũ giáo viên mầm non, những người trực tiếp làm nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Vì vậy việc phát triển giáo viên mầm non như là một giải pháp trọng tâm để đổi mới giáo dục; đội ngũ giáo viên mầm non cần được lựa chọn, đào tạo khoa học, bài bản cùng với đó là chính sách đãi ngộ xứng đáng về vật chất và tinh thần để họ sẵn sàng cống hiến, thực hiện tốt nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ.
Trong công trình Phát triển chương trình đào tạo giáo viên - những vấn đề lý luận và thực tiễn, tác giả Phạm Hồng Quang [28] xác định năng lực giáo viên cần dựa trên 3 tiền đề (1 - xuất phát từ yêu cầu về năng lực của con người trong xã hội hiện đại; 2 - xuất phát từ mục tiêu giáo dục; 3 - xuất phát từ mục tiêu đặc thù của giáo dục sư phạm). Theo đó, tác giả đã xác định năng lực giáo viên bao gồm năng lực chung (năng lực chuyên môn, năng lực quan hệ con người, năng lực khái quát) và năng lực chuyên biệt - năng lực sư phạm. Tuy vậy công trình này đề cập đến giáo dục đại học. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến công tác quản lý bồi dưỡng GVMN, phát triển đội ngũ giáo viên mầm non.
Các công trình nghiên cứu hướng vào giải quyết các vấn đề về phát triển nghề nghiệp giáo viên đáp 7 ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non như: “Một số giải pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên mầm non trên địa bàn Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” [8], “Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non tỉnh Điện Biên” [13]; Lương Thị Ngoan, năm 2020 “Quản lý bồi dưỡng năng lực chuyên môn theo chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên ở các trường mầm non huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên” [24] đã tiếp cận nghiên cứu và đề xuất các biện pháp trong việc quản lý, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của địa phương, điều kiện nhà trường mà các tác giả đang hoạt động. Tác giả Vũ Thị Thu Hường, năm 2013 đã nghiên cứu về vấn đề đội ngũ giáo viên từng bước đáp ứng với chuẩn nghề nghiệp và đưa ra được “Biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non” [15]. Trong luận văn “Phát triển đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp ở thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh” [27] nhóm tác giả: Huỳnh Thị Thanh Phương, Nguyễn Văn Bắc đã chỉ ra thực trạng về mức độ đáp ứng chuẩn nghề nghiệp ở GVMN thị xã Hòa Thành. Hầu hết các tiêu chí đều đạt và có những khác biệt nhưng không đáng kể; tuy nhiên, một số tiêu chí mới đạt mức trung bình như sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin.
Từ đó tác giả cũng đề xuất giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên mầm non theo chuẩn nghề nghiệp: Công tác dự báo và quy hoạch; công tác thực hiện các chính sách về phát triển đội ngũ; công tác công tác đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn. Tác giả Cù Thu Thủy nghiên cứu về “Năng lực của giáo viên mầm non đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục mầm non” [33] đã đưa ra khái niệm năng lực nghề nghiệp GVMN; đưa ra một số yêu cầu năng lực nghề nghiệp GVMN đáp ứng đổi mới của GDMN: (1) Tri thức nghề nghiệp hay năng lực trí tuệ nghề nghiệp, (2) Kỹ năng nghề nghiệp hay năng lực nghề nghiệp, (3) Năng lực thực thi đạo đức nghề nghiệp, (4) Năng lực thực thi văn hóa nghề 8 nghiệp và khẳng định để có được những năng lực nghề nghiệp bền vững đòi hỏi GVMN có quá trình học tập rèn luyện và tự quản lý bản thân thường xuyên trong suốt quá trình học tập ở trường sư phạm cũng như sau này trong hoạt động nghề nghiệp. Vấn đề năng lực nghề nghiệp GVMN và PTNL nghề nghiệp GVMN được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu tiếp cận khác nhau ở mức độ phạm vi khác nhau. Ở huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã có một số nghiên cứu khoa học về bồi dưỡng GVMN, tuy nhiên chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề “Phát triển nghề nghiệp cho GVMN đáp ứng chuẩn nghề nghiệp”.
Tiếp thu, kế thừa những thành tựu nghiên cứu trên, đề tài luận văn này sẽ đưa ra thực trạng phát triển GVMN tại trường mầm non Liên Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc và trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp có tính cấp thiết, tính khả thi phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương trong hoạt động quản lý bồi dưỡng GVMN đáp ứng chuẩn nghề nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non huyện Yên Lạc trong giai đoạn hiện nay. Một số vấn đề lý luận về giáo viên Mầm non và chuẩn nghề nghiệp giáo viên Mầm Non 1. Khái niệm giáo viên, giáo viên mầm non, năng lực của giáo viên 1. Giáo viên Giáo viên là người có trình độ chuyên môn sâu nhất định, có thể tham gia hướng dẫn giúp đỡ người học trong quá trình dạy học ở các cơ sở giáo dục.
Giáo viên không còn chỉ đóng vai trò là người truyền đạt tri thức mà phải là người tổ chức, hướng dẫn, gợi mở cho học sinh tham gia tích cực vào các hoạt động tìm tòi khám phá, trải nghiệm, giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và lao động. Giáo viên phải đủ các tiêu chuẩn theo yêu cầu nghề nghiệp để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đổi mới 9 phương pháp dạy học, lấy học sinh làm trung tâm, chuyển từ cách dạy giải thích, truyền thụ sang cách dạy hoạt động tìm tòi khám phá trải nghiệm. Nhà giáo có những nhiệm vụ [29]: 1. Giảng dạy, giáo dục theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chương trình giáo dục.
Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, điều lệ nhà trường, quy tắc ứng xử của nhà giáo. Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng, đối xử công bằng với người học; bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học. Học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học. Giáo viên mầm non Giáo viên mầm non là người làm việc tại một trong các loại cơ sở giáo dục mầm non, đảm nhận công tác nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi.
Tùy theo nhiệm vụ được phân công, trong trường mầm non có: giáo viên nhà trẻ (những giáo viên thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ dưới 3 tuổi), giáo viên mẫu giáo (những giáo viên thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ từ 3 -6 tuổi). Có trách nhiệm bảo vệ an toàn về thể chất, tinh thần và tính mạng của trẻ em trong thời gian trẻ em ở nhà trường; thực hiện công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em theo chương trình giáo dục mầm non.