Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN, NGHIỆP VỤ CHO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG MẦM NON THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ giáo viên các trường mầm non theo Chuẩn nghề nghiệp Việc thực hiện nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng GVMN tại các trường nhận được sự quan tâm, tìm hiểu và đánh giá của nhiều tác giả, nhà nghiên cứu, có thể kể đến một số công trình: Nguyễn Thị Quy (2016), trong nghiên cứu “Các giải pháp bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non đồng bằng sông Cửu Long” thực hiện nghiên cứu hệ thông lý luận liên quan nhằm khảo sát năng lực giáo viên mầm non, hiệu quả các biện pháp đề xuất đối với bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đồng bằng sông Cửu Long [34]. Trong luận văn thạc sĩ, Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2017) đã tổng hợp các lý luận liên quan về quản lý hoạt động BD tổng thể và quản lý hoạt động phát triển năng lực giáo dục của giáo viên tại huyện THCS Yên Lập, tỉnh Phú Thọ từ các góc nhìn sau: Chức năng quản lý với việc lập kế hoạch.
Đề nghị tổ chức, quản lý, giám sát việc thực hiện theo yêu cầu và nội dung đã xác định, đồng thời tìm ra các biện pháp khả thi phù hợp với thực tiễn của các trường THCS ở tất cả các huyện trong bối cảnh hiện nay và yêu cầu mới [32]. Phạm Thị Thúy An (2020), “Quản lý bồi dưỡng năng lực giáo dục cho giáo viên ở các trường mầm non thành phố Cẩm phả, tỉnh Quảng Ninh”, Luận văn thạc sĩ đã đề xuất 05 biện pháp quản lý bồi dưỡng năng lực giáo dục trẻ cho giáo viên ở trường mầm non trên địa bàn TP Cẩm phả, tỉnh Quảng ninh bao gồm: Tổ chức đánh giá năng lực giáo dục trẻ và xác định nhu cầu 7 bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên; Hoàn thiện kế hoạch bồi dưỡng năng lực giáo dục trẻ cho đội ngũ giáo viên trường mầm non đáp ứng yêu cầu thực tiễn giáo dục phổ thông hiện nay; Xây dựng môi trường hỗ trợ, hợp tác giữa CBQL - GV, GV - GV và khuyến khích GV tự bồi dưỡng phát triển năng lực giáo dục trẻ; Đa dạng hóa hình thức bồi dưỡng năng lực giáo dục trẻ cho giáo viên mầm non phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường; Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả bồi dưỡng năng lực giáo dục trẻ của giáo viên các trường mầm non trước, trong và sau khi tham gia bồi dưỡng [1]. Phạm Thanh Hướng (2020), “Quản lý bồi dưỡng năng lực giáo dục hòa nhập cho giáo viên mầm non huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên”, Luận văn thạc sĩ. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, tác giả đã rút ra được các hạn chế và xác định được các nguyên nhân của hạn chế từ đó đề xuất 06 biện pháp tăng cường hiệu quả thực hiện quản lý bồi dưỡng năng lực giáo dục, cụ thể: Tổ chức nâng cao nhận thức bồi dưỡng năng lực giáo dục hòa nhập cho giáo viên mầm non huyện Định hóa tỉnh Thái Nguyên; Chỉ đạo bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ GV có chuyên môn nghiệp vụ về GDHN trong trường mầm non huyện Định hóa tỉnh Thái Nguyên; Chỉ đạo đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng năng lực giáo dục hòa nhập cho GVMN huyện Định hóa tỉnh Thái Nguyên; Chỉ đạo đa dạng hóa phương pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng năng lực giáo dục hòa nhập cho GVMN huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên; Chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin trong bồi dưỡng năng lực giáo dục hòa nhập cho giáo viên các trường mầm non huyện Định hóa tỉnh Thái Nguyên; Chỉ đạo đổi mới kiếm tra, đánh giá bồi dưỡng năng lực giáo dục hòa nhập cho giáo viên mầm non [24].
Vũ Thị Kim Huệ (2020), cho rằng phát triển đội ngũ GV theo chuẩn GV MN tại các trường, nhất là trên địa bàn thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc đáp ứng nguồn nhân lực có năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm. Đội ngũ GV 8 tại các trường MN phát triển về số lượng, chất lượng từng bước được nâng lên, song vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, từ đó đặt ra những yêu cầu khách quan và cấp thiết phải giải quyết để đáp ứng yêu cầu chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ trong nhà trường, góp phần nâng cao năng suất lao động, mục tiêu phát triển toàn diện trẻ theo Chương trình giáo dục MN [22]. Trần Nguyên Lập (2021) cũng đã viết về công tác quản lý giáo viên mầm non nói chung trong bài viết về phát triển đội ngũ với nội dung “Một số giải pháp quản lý giáo viên mầm non ở các tỉnh miền Trung theo chuẩn nghề nghiệp” và những quan điểm cụ thể về quản lý giáo viên mầm non (GVMN) đặc biệt phù hợp với yêu cầu thực tế của trường học. Vì vậy, sự lãnh đạo của giáo viên trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của nhà trường là đặc biệt quan trọng.
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung, điều kiện từ chuẩn giáo dục nghề nghiệp đã được ban hành, giáo dục mầm non nói riêng, lực lượng giáo viên mầm non (GVMN) các tỉnh miền Trung vẫn chưa tương xứng, thiếu về số lượng, chưa vững nghiệp vụ chuyên môn và phân bố chưa đồng đều ở các vùng, miền, không đồng đều về chất lượng, thậm chí một bộ phận GV còn hạn chế về năng lực, kiến thức, kĩ năng trong việc nuôi dạy trẻ; chưa đáp ứng tốt với chuẩn nghề nghiệp GVMN theo đúng tinh thần của các chương trình, bộ chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo [26]. Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên các trường mầm non theo Chuẩn nghề nghiệp Trong hoạt động bồi dưỡng giáo viên mầm non thì bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo chuẩn nghề nghiệp là nội dung quan trọng cần được quan tâm, chỉ đạo từ các bên liên quan đặc biệt từ chủ thể là hiệu trưởng: Nguyễn Thị Nguyên (2018) viết bài “Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục và đào tạo của CNN đối với các trường mầm non ở huyện Tương Giang, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” và thực hiện nghiên cứu các vấn đề 9 liên quan đến nội dung, yêu cầu của hoạt động bồi dưỡng phù hợp với yêu cầu đã đặt ra và về nội dung các chủ đề được đề cập phù hợp với tiêu chuẩn/tiêu chí của chuẩn nghề nghiệp giáo viên mẫu giáo.” Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động bồi dưỡng kĩ năng NVSP cho GVMN theo CNN tại xã Tương Giang, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh cho thấy phần lớn cán bộ quản lý, GV nhận thức tốt về tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng kĩ năng NVSP nên đã có những chủ trương đúng đắn, biện pháp cụ thể về công tác quản lý, bồi dưỡng đội ngũ GV để nâng cao trình độ phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ. Hiệu trưởng các Nhà trường tiến hành việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, đánh giá hoạt động bồi dưỡng được xác định là đạt kết quả khá nhưng chưa có những biện pháp về QLGD thiết thực, bảo đảm công tác bồi dưỡng GV chưa thường xuyên và chưa tạo điều kiện để GV tiếp cận, rèn luyện kĩ năng NVSP thiết yếu và cần thiết, hiện đại, thiếu sự kiểm tra, đánh giá, khích lệ, động viên nên GVMN chưa có động cơ để cùng nhà trường tham gia nhiệt tình và tích cực việc thực hiện hoạt động bồi dưỡng kĩ năng NVSP theo yêu cầu của bối cảnh mới hiện nay [31]. Nguyễn Bách Thắng (2022), Thực trạng hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang theo chuẩn nghề nghiệp, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 04/2022, theo tác giả chất lượng giáo dục (GD) mầm non (MN) của huyện Tri Tôn vẫn còn nhiều hạn chế so với các huyện khác trên địa bàn tỉnh An Giang.
Hạn chế đó do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân do khâu quản lý chuyên môn của các trường MN chưa chặt chẽ, hiệu trưởng đơn vị còn thiếu chủ động, quản lý còn nặng về hình thức, mang tính áp đặt, gò bó, chưa sáng tạo, chưa có biện pháp chỉ đạo hữu hiệu trong việc thực hiện bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên (GV)[36]. Phạm Thị Ngọc Hân (2023), Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên mầm non huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước theo chuẩn nghề nghiệp, Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 12(02S), 255-269. 10 Bài viết đã tập trung nghiên cứu, làm rõ về thực trạng/ thực tiễn hoạt động bồi dưỡng và tình hình quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn của huyện Hớn Quản trong giai đoạn 2020-2022 và đề xuất một số giải pháp tiếp cận với bối cảnh mới/ hội nhập và chuyển đổi số qua đó góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên mầm non theo đúng chuẩn trên địa bàn huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước trong thời gian tới [19]. Trần Minh Hùng, Hoàng Thị Ngọc Mai (2023), Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên chuyên môn nghiệp vụ theo chuẩn nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên mầm non thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Tạo chí Khoa học, Trường Đại học Đồng Nai, số 19/2022.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra khi thực hiện đồng bộ/ thống nhất và phù hợp nhất với bối cảnh hiện nay của tỉnh Đồng Nai, bối cảnh giáo dục Việt Nam khi hội nhập, đổi mới và chuyển đổi số thì các biện pháp này sẽ cải thiện năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ GVMN trên địa bàn thành phố Biên Hòa trong giai đoạn tới sẽ góp phần nâng cao chất lượng GDMN trong giai đoạn tới [21]. Võ Nguyên Du, Đặng Thị Thanh Thúy (2023), Quản lý hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên các trường mầm non trên địa bàn thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định theo chuẩn nghề nghiệp, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội số 02/2023. Việc xúc tiến, đào tạo liên quan đến công tác này sẽ do đội ngũ quản lý (chủ yếu là hiệu trưởng) và các giáo viên giáo dục mầm non thực hiện, trên cơ sở hướng dẫn, hướng dẫn của Bộ Giáo dục và tỉnh Quy Nhơn. Các quy định của thành phố và tiểu bang về giáo dục mầm non.