CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẦN LÝ HOẠT ĐỌNG GIÁO DUC NEP SÓNG VAN HOA CHO HOC SINH Ở CÁC TRƯỜNG PTDTBT-THCS 1. Tổng quan van dé nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Thuật ngữ “văn hóa” ở nước ta hiện nay dùng trong các khoa học xã hội và nhân văn có nguồn gốc ở cả phương Đông và phương Tây. Ở phương Đông, hóa" cũng xuất hiện rất sớm.
Lưu Hướng (thời Tây Hán, Trung Quốc) trong sách *Thuyết Uyên bài Chỉ Vũ” viết: “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức rồi sau mới dùng vũ lực” [15, tr. Đây là quan điểm Văn trị giáo hỏa, nhân văn giáo hóa, nghĩa là đem cái Đẹp của con người (nhân văn) làm chuẩn mực giáo dục những người khác trong các dân tộc xung quanh vùng Hoa Hạ thoát khỏi tỉnh trạng đã man, kém hiểu biết. Ở phương Tây, “văn hóa” có nguồn gốc từ chữ La tỉnh “cultus” voi nghĩa cụ thể (nghĩa đen) là khai hoang, trằng trọt cây lương thực (Cultus Agri). Sau nảy được mở rộng nghĩa dùng trong xã hội chỉ sự gieo trồng trí tuệ cho con người, giáo dục đảo tạo con người (Cultus Animi).
Nhiều nhà nghiên cứu đã định nghĩa thuật ngữ “văn hỏa” theo cách hiêu nảy. Nhà triế học Anh Thomas Hobbes (1588 - 1679): "Lao động đành cho đất gọi l sự gieo trồng và sự dạy dỗ trẻ em gọi là gieo trong tinh thần" [31, tr. Nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917) định nghĩa văn hỏa theo trình độ phát triển: văn hóa hay văn minh hiểu theo. nghĩa rộng trong dân tộc học là một tông thẻ phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, và bắt cứ những khả năng, tập quán nảo mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên của xã hội [31.
Năm 1988, khi phát đông Thập kỷ Thế giới Phát triển Văn hóa. Tổng giám đốc UNESCO. Federieo Mayor đã tiếp cận văn hóa theo nghĩa là toàn bộ diện mạo đặc trưng khắc họa nên bản sắc của mỗi dân tộc: “Văn hóa là tổng thể s g đồng các hoạt động sáng. tạo của cá nhân vả công đồng trong quá khứ vả trong hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống vả thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc" [39, tr. chủng ta có thể tiếp cận văn hóa dưới nhiều góc độ khác nhau. Song, dưới góc độ phương pháp luận nghiên cứu về nếp sống văn hóa thi cần tiếp cận văn hóa như tông bề rộng, tầm cao các giá trị mang tính nhân văn do con người sảng tạo theo tiêu chí chân, thiện, mỹ trong tiến trình lịch sử và trở thành nhân tố nuôi dưỡng, hoàn thiện, phát triển phẩm chất con người cùng đời lg công đồng. Trên thể giới thuật ngữ *Lối sống”.
tp sống” đã được nêu ra và nghiên cứu tử cuối thể ki XIX.Vào những năm 70 - 80 của thế kỉ XX việc nghiên cứu lối sống, nếp sống ở các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu phát triển khá mạnh mẽ. Có thể nói lối sống là thuật ngữ mới trong tiếng Việt. Sách cổ, sách chữ Hán, chữ Nôm, hiếm thấy xuất hiện. Trong thời kỳ cận đại và hiện đại, nhất là sau cách mạng tháng 8 đã bất đầu hình thành ki niệm về cách thức, lề l‹ , nề nếp của con người trong cuộc sống.
Các khái niệm nảy có thể mượn dịch, hoặc phỏng theo tir nước ngoài. Thuật ngữ về khải niệm nảy trong các tiếng Pháp, Anh, Đức, Nga được viết: “Mode de vie”, “Way of life “Lebens Weise”,. Cac tir dién khong có sự phân biệt rõ rằng vẻ lỗi séng, nép séng, thi du tir dién tiéng Viet - Nxb Khoa hoc xã ¡ 1988 chỉ dé c nghĩa của lỗi và nếp như sau: Lỗi là hình thức diễn ra của hoạt động đã trở thành ôn định mang đặc điểm riêng. „Vi dụ như lỗi sống tiểu tư san, lố châm biếm.
Còn Nếp được hiểu là cách sống, hoạt động đã trở thành thôi quen: Nếp sống văn mình. nếp suy nghĩ. Hầu hết đều khẳng định cơ sở của lỗi sống, nếp sống Xã hội chủ nghĩa bất nguồn từ phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa và luôn dựa trên cơ sở của tính thể, tính giai cấp, đối lập với lối sống, nếp sống tư bản chủ nghĩa chạy theo đồng tiền, Trong những thập ki gần đây vấn đề lối sống, nếp sông của học sinh. sinh viên cũng được nghiên cứu nhiễu.
Trong cuốn *The student revolution Aglobananalysis” xuất bản năm 1970 tại Án Độ đã đẻ cập đến vẫn đề của sinh viên thể giới: th với những sự kiện chính trị, đảng phái, chính sách của Chính phủ: sự tham gia của các sinh viên trong phong trào chỉnh trị- xã hội ở các nước; các tổ chức xã hội và đoàn thể của sinh viên. Nhưng vẫn đẻ nếp sống cũng chỉ được xem xét và mô tả một cách rời rạc, chưa khai thác được khía cạnh văn hóa trong một chỉnh thể nếp sống, lối song. Các nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam vấn đề nghiên cửu lối sống, nếp sống đã được đề cập đến từ lâu qua nhiều công trình nghiên cứu công phu như công trình “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính (1875-1921). Trong tác phẩm nây hầu hết những phong tục xã hội, phong tục trong gia tộc, thói quen, nếp sống của con người Việt Nam kế từ xưa đến đầu thể kỷ XX được tác giả phản ảnh một cách khách quan, tử đó ca ngợi những phẩm chất, thói quen tốt của con người Việt Nam, đồng thời mạnh dạn phê phán các yêu tố lạc hậu, trì trệ trong các phong tục, thói quen, không phủ hợp với thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc.
Tư tưởng tiễn bộ của Phan Kế Bính đã được Đảng ta quán triệt trong các nghị quyết nhằm xây dựng ở Việt Nam một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Chủ tịch Hỗ Chí Minh. nhà văn hóa lớn của dân tộc và nhân loại cũng đã nhắn mạnh việc xây dựng "Đời sống mới” (sau này đổi thành nếp sống mới), cách lâm việc mới, Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục thể hệ trẻ lòng nhân ải, kính giả, yêu trẻ, có lối sống thật thà, khiêm tốn, trung thực, yêu lao động, yêu đẳng bảo và yêu Tổ. Trong lúc nước nhà chưa thống nhất, việc xóa bỏ, cải tạo nếp sông cũ lạc hậu và xây dựng nếp sông mới là nhiệm vụ to lớn và phức tạp, đỏi hỏi phải tiến hành, như Hồ i: “Một cách rất cẩn thận, rất chịu khỏ, rất lâu dai” [22, tr.
Trong suốt quả trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến vấn để văn hỏa, Nếp sống văn hóa, coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới, con người mới. Vấn đề nghiên cứu nếp sống vin hóa đã được đẻ cập trong nhiễu công trình nghiên cứu, nhiều văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước. Tiêu biểu là trong Nghị quyết V của Ban chấp hảnh Trung Ương khóa VII, Đảng ta đã dành riêng để bản lĩnh vực văn hỏa. Nội dung nghị quyết gồm 6 vấn đề quan trong thi vin dé giáo dục đạo đức, lỗi si sống được đặt lên đầu tiên.
Trong toản văn nghị quyết V thuật ngữ lỗi sống, nếp sống được nhắc đến nhiều lần như “tư tưởng đạo đức và lối sống là những vấn đề then chốt của văn hóa” hay như sống lảnh mạnh, nếp sống văn minh”. “Coi trọng giáo dục đạo lý làm người, ý thức trách nhỉ: „ nghĩa vụ công dân, lỏng yêu nước, đạo đức, nếp sống văn hóa. lịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của mỗi người và tiền đỗ của đất nước. Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, mở rộng mạng lưới thông tin ở vùng dân tộc thiểu số.
Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành trung ương Đáng công sản Việt Nam khóa IX đã nhân mạnh: ảng cường quản lý nhà nước, hoàn thiện cơ chế, chính sách và giải pháp đây mạnh việc xây dựng nếp sông văn hóa, văn mỉnh; hình thành các giá trị con người mới, giá trị xã hội mới làm cơ sở vả động lực cho đất nước phát triển nhanh và bên vững”; đặc biệt trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thử X (2006) dé cap vi *,.Phát huy tinh năng động, chủ động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thê nhân dân, các hội văn học, nghệ thuật, khoa học, bảo chí, các hộ gia đình, cá nhân, các trí thức tham gia hoạt động trên các lĩnh vực văn hóa. Xây dựng và triển khai chương trình giáo dục văn hỏa, thâm mỹ, nếp sống văn minh, hiện đại trong nhân dân”. Như vậy, cỏ thể khẳng định vấn đề nếp sống, quản lý nếp sống, Nếp sông văn hóa của các tầng lớp nhân dân, trong đó có lực lượng thanh niên, học sinh, sinh viên đã được các nhà lãnh đạo đất nước, quản lý xã hội rất quan tâm. Trong thời gian gần đây việc nghiên cứu lối sống, nếp sống nói chung và lối sống, nếp sống học sinh.
sinh viên nội trú, bán trú nói riêng đã được rất nhiều tác giả quan tâm và một số công trình, luận án đã đi sâu vào những vấn để cụ thể như: + Vũ Dũng: “Xếp sống xã hội của sinh viên” Tap chi Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp (01/1997) + Mạc Văn Trang : “Đặc điểm lỗi sống Sinh viên hiện nay và những biện pháp gitio duc Idi sống cho Sinh viên” Đề tài cấp Bộ. + Khúc Năng Toàn : “Miếp sống có vấn n hóa của sinh viên sư phạm” Luận văn thạc sỹ Tâm lý học, Hả Nội 1999. + Trần Văn Trọng: “Biển pháp quán lý hoạt động tự học của học sinh trường Van héa 3, Bộ Công an”, Luận văn thạc sỹ Giáo dục học, Hà Nội 2009 + Tran Công Thanh: *7hực trạng vả các biện pháp giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú trường Đại học Sư phạm Hà Nội”, mã số 5.0703, Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục, Hà Nội 1999. + Định Thị Tuyết Mai: *Aột sổ biện pháp tăng cường công tác quản lý đời sông sinh viên nội trủ - Đại học Quốc gia Hà Nội”, mã số 60.05, Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục, Hà Nội, 2003.
Như vậy có thể thấy vẫn đề nếp sống, quản lý nếp sống học sinh, sinh viên nội trú là một đề tải đã có nhiều tác giả nghiên cứu.