Tổng quan nghiên cứu

Giáo dục mầm non là bậc học khởi đầu trong hệ thống giáo dục quốc dân, giữ vai trò nền tảng định hình nhân cách, thể chất và tư duy cho trẻ. Thực tế tại phường Vĩnh Nguyên, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa – địa bàn đặc thù với diện tích 42,6187 km² (chiếm 16,87% diện tích toàn thành phố) gồm 14 tổ dân phố đất liền và 5 tổ dân phố thuộc các đảo – công tác chăm sóc giáo dục trẻ mầm non đang đứng trước yêu cầu đổi mới cấp thiết. Trong năm học 2018-2019, hai trường mầm non công lập trên địa bàn là Mầm non Vĩnh Nguyên 1 và Mầm non Vĩnh Nguyên 2 đã tiếp nhận 600 học sinh phân bổ trên 20 nhóm lớp (tăng 14 trẻ so với mức 586 học sinh của năm học 2017-2018). Trong đó, trẻ lứa tuổi mẫu giáo chiếm tỷ lệ 84,3% (506 trẻ) và nhà trẻ chiếm 15,7% (94 trẻ), đạt sĩ số bình quân 35 trẻ trên mỗi lớp tại 8 điểm trường (5 điểm đất liền và 3 điểm đảo).

Mặc dù tỷ lệ phát triển toàn diện của trẻ tại hai đơn vị đạt mức ấn tượng 95,4% ở năm học 2018-2019 (tăng từ mức 94,8% của năm học 2017-2018), việc chuyển đổi từ phương pháp dạy học truyền thống sang mô hình giáo dục lấy trẻ làm trung tâm theo Kế hoạch số 56/KH-BGDĐT vẫn gặp nhiều rào cản quản lý. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng quản lý hoạt động giáo dục theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm tại các trường mầm non công lập phường Vĩnh Nguyên, xác định rõ nguyên nhân cốt lõi và xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý giai đoạn 2020-2025. Nghiên cứu mang giá trị thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học giúp các nhà quản lý nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ tại các địa bàn ven biển, hải đảo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở tiếp cận thuyết chức năng quản lý giáo dục hiện đại của Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, xem xét quản lý là chu trình tích hợp gồm bốn chức năng cơ bản: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá. Đồng thời, đề tài ứng dụng các mô hình giáo dục tiến bộ thế giới như Montessori, Reggio Emilia và HighScope – những mô hình nhấn mạnh phương pháp dạy học tích cực, cá thể hóa quá trình phát triển và tối ưu hóa tiềm năng của trẻ. Nghiên cứu cũng kế thừa thuyết tâm lý học hoạt động của L. Leonchiev về cơ chế hình thành hành động trí tuệ từ hành động vật chất, cùng quan điểm Công nghệ Giáo dục của Giáo sư Hồ Ngọc Đại.

Khung lý thuyết của luận văn vận hành dựa trên 4 khái niệm cốt lõi:

  1. Quản lý giáo dục: Quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm huy động tối ưu các nguồn lực.
  2. Hoạt động giáo dục mầm non: Quá trình sư phạm tích hợp giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm xã hội và thẩm mỹ.
  3. Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm: Quan điểm sư phạm đặt trẻ vào vị trí trung tâm của mọi hoạt động, tôn trọng nhu cầu, hứng thú và sự khác biệt cá nhân theo tinh thần Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT.
  4. Quản lý hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm: Hệ thống tác động điều hành chuyên môn nhằm tạo lập môi trường trải nghiệm tự chủ, kích thích khả năng tự học và khám phá của trẻ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình khảo sát hỗn hợp kết hợp định lượng và định tính trong năm học 2018-2019. Khách thể khảo sát bao gồm toàn bộ 46 đối tượng chuyên môn trên địa bàn nghiên cứu, trong đó có 9 cán bộ quản lý (chiếm 19,6%) và 37 giáo viên mầm non trực tiếp đứng lớp (chiếm 80,4%) thuộc Trường Mầm non Vĩnh Nguyên 1 và Mầm non Vĩnh Nguyên 2. Việc lựa chọn mẫu toàn bộ nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối và triệt tiêu sai số chọn mẫu trong phạm vi phường Vĩnh Nguyên.

Dữ liệu định lượng được thu thập qua bảng hỏi thiết kế theo thang đo Likert 4 mức độ:

  • Mức 1: Chưa bao giờ / Yếu (1,00 đến 1,74 điểm)
  • Mức 2: Rất ít khi / Trung bình (1,75 đến 2,49 điểm)
  • Mức 3: Thỉnh thoảng / Khá (2,50 đến 3,24 điểm)
  • Mức 4: Thường xuyên / Tốt (3,25 đến 4,00 điểm) Với khoảng cách giá trị là 0,75 điểm.

Phương pháp xử lý số liệu sử dụng thống kê toán học để tính điểm trung bình (ĐTB) và áp dụng hệ số tương quan thứ hạng Spearman ($r_s$) để kiểm định mức độ tương thích trong đánh giá giữa nhóm cán bộ quản lý và giáo viên. Ngoài ra, tác giả sử dụng phương pháp quan sát sư phạm tại 20 nhóm lớp và phỏng vấn sâu 10 chuyên gia quản lý để đối chiếu, làm sâu sắc thêm kết quả định lượng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tiễn tại các trường mầm non công lập phường Vĩnh Nguyên mang lại các phát hiện thực trạng đáng chú ý:

Thứ nhất, mức độ thực hiện hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm đạt mức đánh giá chung là Khá với ĐTB = 3,11/4,00. Trong đó, tiêu chí "Sử dụng các hình thức tổ chức giáo dục" đạt điểm cao nhất với ĐTB = 3,66 (xếp thứ 1, mức Tốt), tiêu chí "Thực hiện mục tiêu giáo dục" đạt ĐTB = 3,37 (xếp thứ 2). Ngược lại, tiêu chí "Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật phục vụ giáo dục" chỉ đạt ĐTB = 2,00 (xếp thứ 6, mức Trung bình), phản ánh sự thiếu hụt trang thiết bị dạy học hiện đại và không gian trải nghiệm ngoài trời.

Thứ hai, vị trí chủ thể của trẻ trong hoạt động giáo dục chưa thực sự đạt mức tối ưu, với ĐTB tổng thể đạt 3,07 (mức Thỉnh thoảng). Dù chỉ số "Trẻ có cơ hội tham gia hoạt động bằng nhiều cách" đạt ĐTB = 3,30 (xếp thứ 1), nhưng chỉ số "Trẻ được tự lựa chọn các hoạt động thực hiện" chỉ đạt ĐTB = 2,51 (xếp thứ 9, mức Rất ít khi) và chỉ số "Trẻ được khuyến khích nói lên ý tưởng" đạt ĐTB = 2,62 (xếp thứ 8).

Thứ ba, vai trò của giáo viên mầm non trong việc triển khai phương pháp lấy trẻ làm trung tâm đạt ĐTB chung là 3,27 (mức Thường xuyên). Các mặt làm tốt nhất gồm "Tôn trọng trẻ" đạt ĐTB = 3,94 (xếp thứ 1) và "Chuẩn bị môi trường, đồ dùng đồ chơi" đạt ĐTB = 3,90 (xếp thứ 2). Tuy nhiên, năng lực "Xác định và đáp ứng sở thích, kỹ năng từng trẻ" chỉ đạt ĐTB = 2,83 (xếp thứ 15/15) và "Điều chỉnh hoạt động giáo dục phù hợp nhu cầu của trẻ" đạt ĐTB = 2,95 (xếp thứ 14).

Thứ tư, kiểm định thống kê cho thấy sự đồng thuận cao giữa cán bộ quản lý và giáo viên qua hệ số tương quan Spearman: $r_s = 0,58$ đối với nội dung thực hiện hoạt động giáo dục, $r_s = 0,54$ đối với vị trí của trẻ, và $r_s = 0,75$ đối với vai trò của giáo viên.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu phản ánh sự chênh lệch rõ rệt giữa nhận thức lý thuyết và thực tiễn triển khai phương pháp lấy trẻ làm trung tâm. Mặc dù 100% cán bộ quản lý và giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn chuyên ngành sư phạm mầm non, việc cá thể hóa hoạt động học tập vẫn gặp trở ngại do sĩ số lớp đông (bình quân 35 trẻ/lớp). Điều này buộc giáo viên phải chọn giải pháp quản lý đồng loạt thay vì đáp ứng nhu cầu riêng biệt của từng trẻ.

Thực trạng cơ sở vật chất ở mức thấp (ĐTB = 2,00) là rào cản lớn nhất. Quy định chuẩn diện tích phòng học từ 1,2 đến 1,5 m²/trẻ theo Điều lệ trường mầm non chưa được đáp ứng đồng bộ tại 8 điểm trường, đặc biệt là 3 điểm trường tại các đảo Trí Nguyên, Vũng Ngán và Bích Đầm. Tình trạng "cô làm thay trẻ" vẫn diễn ra do tâm lý áp đặt truyền thống và thói quen nuông chiều từ phía gia đình.

Dữ liệu thực trạng có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột so sánh điểm trung bình giữa 6 thành tố quản lý hoạt động giáo dục, làm nổi bật khoảng cách chênh lệch giữa hình thức tổ chức (3,66 điểm) và điều kiện cơ sở vật chất (2,00 điểm). Đồng thời, bảng ma trận phân phối mức độ đồng thuận với hệ số tương quan Spearman đạt từ 0,54 đến 0,75 là minh chứng thực nghiệm khẳng định các hạn chế mang tính hệ thống chứ không phải là hiện tượng cục bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi trên 46 khách thể, tác giả đề xuất 6 biện pháp quản lý đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục lấy trẻ làm trung tâm:

  1. Bồi dưỡng chuyên sâu năng lực cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non: Tổ chức định kỳ 4 đợt tập huấn chuyên đề mỗi năm học về kỹ năng quan sát trẻ, kỹ thuật xây dựng kế hoạch giáo dục mở và phương pháp cá thể hóa hướng dẫn. Mục tiêu nâng tỷ lệ giáo viên ứng dụng thành thạo phương pháp tích cực lên 100% trong vòng 12 tháng. Chủ thể thực hiện: Ban Giám hiệu phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo TP. Nha Trang.

  2. Xây dựng và triển khai kế hoạch đổi mới hoạt động giáo dục: Phân cấp quyền chủ động cho tổ chuyên môn và giáo viên đứng lớp trong việc thiết kế chủ đề học tập linh hoạt theo tuần, tháng. Giảm 30% thời lượng truyền thụ đồng loạt để chuyển sang hoạt động góc và trải nghiệm thực địa trước năm học 2021-2022. Chủ thể thực hiện: Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn và các tổ trưởng chuyên môn.

  3. Đổi mới toàn diện quy trình kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục: Chuyển trọng tâm từ kiểm tra hồ sơ sổ sách hành chính sang đánh giá sự tiến bộ thực tế của từng trẻ theo 5 lĩnh vực phát triển. Thiết lập hồ sơ theo dõi cá nhân cho 100% học sinh nhằm phản ánh đúng năng lực và sở thích của trẻ. Chủ thể thực hiện: Cán bộ quản lý và giáo viên đứng lớp.

  4. Hiện đại hóa cơ sở vật chất và không gian học tập trải nghiệm: Đầu tư kinh phí cải tạo diện tích phòng học đạt chuẩn tối thiểu 1,5 m²/trẻ, bổ sung học liệu tự nhiên và trang thiết bị nghe nhìn cho cả 8 điểm trường (ưu tiên 3 điểm trường tại các đảo) trước năm 2023. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân thành phố Nha Trang, Ủy ban nhân dân phường Vĩnh Nguyên và Ban Giám hiệu nhà trường.

  5. Hoàn thiện chính sách thi đua, khen thưởng tạo động lực: Xây dựng bộ tiêu chí thi đua dựa trên mức độ đổi mới sáng tạo trong giảng dạy, khen thưởng kịp thời 10-15% cá nhân đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở có sáng kiến kinh nghiệm xuất sắc về giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Chủ thể thực hiện: Hội đồng Thi đua - Khen thưởng nhà trường.

  6. Tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng: Đa dạng hóa các kênh trao đổi thông tin qua góc tuyên truyền nhóm lớp, tổ chức ít nhất 2 buổi hội thảo chuyên đề mỗi học kỳ để thay đổi nhận thức của phụ huynh về việc để trẻ tự lập. Chủ thể thực hiện: Ban Đại diện Cha mẹ học sinh và giáo viên chủ nhiệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý các trường mầm non: Cung cấp khung năng lực và quy trình chuẩn hóa 4 chức năng quản lý giáo dục (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra), giúp các Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch phát triển trường học đạt chuẩn quốc gia.

  2. Giáo viên mầm non trực tiếp đứng lớp: Tài liệu hướng dẫn thiết thực về cách thiết kế môi trường giáo dục mở, phương pháp tổ chức hoạt động học thông qua chơi, kỹ thuật quan sát và lập kế hoạch hỗ trợ từng cá nhân trẻ.

  3. Chuyên viên quản lý giáo dục mầm non tại các Phòng và Sở Giáo dục và Đào tạo: Cung cấp căn cứ thực tiễn và bộ số liệu khảo sát tin cậy phục vụ công tác xây dựng chính sách, quy hoạch mạng lưới trường lớp và chỉ đạo chuyên môn cho các địa bàn đặc thù có biển, đảo.

  4. Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục: Nguồn tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu thực tiễn, quy trình thiết kế bảng hỏi Likert, ứng dụng hệ số tương quan Spearman trong xử lý dữ liệu quản lý giáo dục.

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm khác biệt cốt lõi giữa phương pháp giáo dục mầm non truyền thống và quan điểm lấy trẻ làm trung tâm là gì? Trong phương pháp truyền thống, giáo viên đóng vai trò truyền thụ một chiều, làm mẫu và trẻ thụ động làm theo. Ngược lại, quan điểm lấy trẻ làm trung tâm xem trẻ là chủ thể tích cực, tự khám phá kiến thức qua hoạt động thực hành, trải nghiệm. Giáo viên chuyển từ vai trò truyền đạt sang người hỗ trợ, quan sát và tạo điều kiện tối ưu theo nhu cầu của trẻ.

2. Thực trạng cơ sở vật chất ảnh hưởng như thế nào đến việc triển khai giáo dục lấy trẻ làm trung tâm tại Vĩnh Nguyên? Khảo sát thực tế chỉ ra cơ sở vật chất là điểm nghẽn lớn nhất với ĐTB = 2,00/4,00. Việc thiếu diện tích phòng học chuẩn (chưa đạt 1,2 - 1,5 m²/trẻ) cùng với địa bàn chia cắt tại 8 điểm trường (có 3 điểm đảo) khiến việc bố trí các góc hoạt động trải nghiệm độc lập cho 600 trẻ gặp nhiều hạn chế.

3. Tại sao chỉ số "Trẻ được tự lựa chọn hoạt động" lại có điểm đánh giá thấp nhất trong khảo sát? Chỉ số này xếp thứ 9/9 với ĐTB = 2,51 do giáo viên chịu áp lực bảo đảm an toàn tuyệt đối và duy trì trật tự cho sĩ số lớp đông (trung bình 35 trẻ/lớp). Thói quen chỉ định nhóm chơi có sẵn của cô giáo khiến trẻ ít có cơ hội tự đề xuất hoạt động theo ý thích riêng.

4. Khung pháp lý nào định hướng cho việc đổi mới giáo dục lấy trẻ làm trung tâm tại các trường mầm non hiện nay? Hoạt động đổi mới căn cứ trực tiếp vào Thông tư số 28/2016/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung Chương trình Giáo dục mầm non và Kế hoạch số 56/KH-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chuyên đề "Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm" giai đoạn 2016-2020.

5. Giải pháp nào mang tính đột phá nhất trong 6 biện pháp được đề xuất trong luận văn? Biện pháp bồi dưỡng chuyên sâu năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mang tính đột phá nhất. Dù 100% cán bộ, giáo viên đạt trên chuẩn đào tạo, việc nâng cao kỹ năng sư phạm cá thể hóa (hiện chỉ đạt ĐTB = 2,83) sẽ giải quyết trực tiếp gốc rễ vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm tại cơ sở giáo dục mầm non.
  • Nghiên cứu làm rõ thực trạng quản lý tại các trường mầm non công lập phường Vĩnh Nguyên với ĐTB chung đạt 3,11/4,00, chỉ rõ khoảng cách lớn giữa hình thức tổ chức (3,66 điểm) và cơ sở vật chất (2,00 điểm).
  • Xác định nguyên nhân trọng yếu xuất phát từ sĩ số lớp học cao (35 trẻ/lớp), sự hạn chế về không gian trải nghiệm và kỹ năng sư phạm cá thể hóa của giáo viên.
  • Đề xuất hệ thống 6 biện pháp quản lý khả thi, có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ, được 46 cán bộ quản lý và giáo viên đánh giá cao về tính cấp thiết và khả năng ứng dụng.
  • Đóng góp luận cứ thực tiễn quan trọng cho công tác quản lý giáo dục mầm non tại các địa bàn ven biển và hải đảo của thành phố Nha Trang.

Lộ trình triển khai khuyến nghị các cơ sở giáo dục hoàn thành công tác bồi dưỡng đội ngũ trong năm học 2020-2021, tiến tới chuẩn hóa cơ sở vật chất tại 8 điểm trường trước năm 2023. Các nhà quản lý giáo dục và cán bộ chuyên môn cần chủ động áp dụng ngay các giải pháp trên nhằm kiến tạo môi trường học tập an toàn, thân thiện, giải phóng tối đa tiềm năng của trẻ em mầm non.