MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, các quốc gia trên thế giới đều xem nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, có vai trò quyết định quan trọng đến sự phát triển bền vững một quốc gia. Mục tiêu của việc phát triển nguồn nhân lực là nâng cao kiến thức, đào tạo kỹ năng nghề nghiệp và phát triển toàn diện con người Việt nam về chính trị, trí tuệ, đạo đức, ý chí và thể lực; hình thành đội ngũ lao động có trình độ, ngành nghề đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng, đặc biệt chú trọng đến bộ phận nhân lực trình độ cao trong các lĩnh vực quản lý, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo và các ngành tạo được năng suất, đem lại giá trị gia tăng cao trong nền kinh tế quốc dân. Dạy nghề là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, có chức năng đào tạo người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật – nghiệp vụ ở trình độ sơ cấp và trung cấp, có trình độ học vấn tương đương trung học hoặc sau trung học để trực tiếp tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… theo nhu cầu của thị trường lao động.
Luật Dạy nghề năm 2006 ở Việt Nam đã cụ thể hóa: “Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học trên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Tổng cục Dạy nghề Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, 2009, Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cơ sở dạy nghề, Tài liệu tập huấn cho cán bộ quản lý cơ sở dạy nghề [20, 2] Do đó đào tạo nhân lực, một mặt phải đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, mặt khác nâng cao năng lực cạnh tranh và hợp tác bình đẳng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Mục tiêu của dạy nghề đến năm 2020 ở Việt Nam là nhằm nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô, bảo đảm sự phù hợp về cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ đào tạo và nâng cao hiệu quả dạy nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đặc biệt là đội ngũ lao động Việt Nam có kỹ năng nghề cao đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và ngoài nước. Như vậy việc nâng cao chất lượng dạy nghề đòi hỏi chúng ta phải quan tâm và đặc biệt chú trọng đến việc đảm bảo có một cơ cấu trình độ dạy nghề phù hợp, nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy nghề. Chất lượng đào tạo nhân lực nói chung, chất lượng dạy nghề nói riêng thể hiện lên chất lượng sản phẩm của đào tạo.
Vì vậy, nâng cao chất lượng đào tạo dạy nghề tại Việt Nam đang là một yêu cầu bức thiết hiện nay. Dạy nghề ở Việt Nam trong hai năm qua đã từng bước được củng cố để phát triển về quy mô và cơ cấu đào tạo, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế về chất lượng đào tạo và đối mặt với những thách thức to lớn về việc đảm bảo cơ cấu hợp lý, chất lượng và hiệu quả đào tạo đáp ứng với thực tế sử dụng lao động qua đào tạo nghề. Như vậy, việc quản lý công tác hoạt động dạy nghề đang là một trong vấn đề yêu cầu bức thiết hiện nay để đáp ứng hiệu quả chất lượng trong đào tạo của nhà trường. Trường Cao đẳng nghề Kinh tế Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong khối đào tạo nghề ở Việt Nam, đang mang nhiệm vụ chung vừa tăng qui mô vừa đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo dạy nghề.
Vì những lý do trên đề tài: “Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy nghề ở Trường Cao đẳng nghề Kinh tế Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh” được thực hiện. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy nghề ở Trường Cao đẳng nghề Kinh tế Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, đề tài đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động dạy nghề tại trường. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu vấn đề lý luận liên quan đến đề tài. - Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề ở Trường Cao đẳng nghề Kinh tế Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý hoạt động dạy nghề ở Trường Cao đẳng nghề Kinh tế Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4. Khách thể nghiên cứu Công tác quản lý hoạt động dạy nghề ở Trường Cao đẳng nghề Kinh tế Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh 4. Đối tượng nghiên cứu Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy nghề ở Trường Cao đẳng nghề Kinh tế Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh.
Giả thuyết khoa học Công tác quản lý hoạt động dạy nghề ở Trường Cao đẳng nghề Kinh tế Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh còn một số bất cập về việc xây dựng kế hoạch đào tạo, xây dựng cơ sở vật chất chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu mới hiện nay. Khi đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy nghề ở trường một cách khách quan và đầy đủ, đề tài có thể đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động dạy nghề ở Trường Cao đẳng nghề Kinh tế Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp trong giai đoạn mới. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy nghề ở Trường Cao đẳng nghề Kinh tế Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu 7.
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận Phân tích và tổng hợp lý thuyết nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn - Phương pháp quan sát: quan sát hoạt động quản lý hoạt động dạy nghề ở Trường Cao đẳng nghề Kinh tế Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh; quan sát việc dạy và học của giảng viên và sinh viên; quan sát sự phối hợp hoạt động của các phòng, ban, trung tâm, khoa, tổ bộ môn có liên quan. - Phương pháp điều tra: điều tra để thu thập ý kiến, làm rõ thực trạng và các giải pháp của công tác quản lý hoạt động dạy nghề ở Trường Cao đẳng nghề Kinh tế Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh thông qua hai loại phiếu hỏi, gồm: phiếu xin ý kiến của cán bộ quản lý và đội ngũ giảng viên; phiếu xin ý kiến của sinh viên tại Trường. - Phương pháp thống kê toán học: dùng để xử lý số liệu nghiên cứu.
- Các phương pháp hỗ trợ khác: ngoài các phương pháp nêu trên, chúng tôi còn dùng các phương pháp hỗ trợ khác để làm sáng tỏ thêm vấn đề nghiên cứu như: phương pháp trò chuyện, phương pháp lấy ý kiến chuyên gia. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Dạy nghề là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, có chức năng đào tạo người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật – nghiệp vụ ở trình độ sơ cấp nghề (SCN), trung cấp nghề (TCN), cao đẳng nghề (CĐN); có trình độ văn hóa tương đương trung học hoặc sau trung học để trực tiếp tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… theo nhu cầu của thị trường lao động và có thể tiếp tục học bổ sung hoặc nâng cao trình độ nếu có nhu cầu và điều kiện. Hiện nay dạy nghề đang được đặt câu hỏi trước vấn đề nâng cấp, phân hóa và chuyển một bộ phận lớn các ngành nghề đào tạo trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) và một bộ phận lớn các trường TCCN sang hệ đào tạo sau trung học (Post – Secondary), đồng thời với việc mở rộng phạm vi các cấp trình độ đào tạo dưới đại học liên thông với nhau, với giáo dục phổ thông và đại học… Rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN) trên thế giới và Việt Nam đã đề cập đến hoạt động dạy nghề (HĐDN) hiện nay trên thế giới như: - “Financing technical and Vocational education and Training” của Beitrage Aus Der Praxis Der Beruflichen Bildung [61]; - “Managing vocational training systems” của Vladimir Gasskov [62]; - “Vocational education and Training institutions” của Vladimir Gasskov [63]; - “Quality management in vocational training” của International Labour Organization [64]; - “Subjective assessment on Vocational training activities: A Generalized ordered probit approach” của Budria Santiago and Pedro Telhado Pereira [65]; - “Đào tạo giáo viên ở Cộng hòa Liên bang Đức và những khuyến nghị cho việc cải cách đào tạo giáo viên ở Việt Nam” của Nguyễn Văn Cường [3] - “Hệ thống công nhận kỹ năng nghề quốc gia” của Cao Quang Đại [6]; - “Nghiên cứu các giải pháp quản lý giáo dục trong môi trường hội nhập WTO” của Nguyễn Công Giáp [15]; -“Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cơ sở dạy nghề” của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội [20]; - “Tổng quan về cơ cấu hệ thống GDNN và sự thay đổi của hệ thống của một số nước trên thế giới” của Dương Đức Lân [26]; - “Đào tạo theo năng lực thực hiện” của Nguyễn Đức Trí – Kennedy - Mac [39]; - “Cơ sở khoa học của việc điều chỉnh cơ cấu hệ thống GDNN trong quá trình hội nhập quốc tế” của Nguyễn Đức Trí [42] - “Nhận diện cơ cấu trình độ GDNN trong phân loại chuẩn giáo dục quốc tế” của Nguyễn Đức Trí [51] - “Xu hướng phát triển giáo dục sau trung học trên thế giới” của Hoàng Ngọc Vinh [59]; Các tài liệu trên đều có đề cập đến thực trạng HĐDN và công tác quản lý HĐDN của các nước trên thế giới với vấn đề điều chỉnh cho phù hợp lại cơ cấu hệ thống GDNN.
Đối với dạy nghề ở các nước Châu Mỹ Latinh, Châu phi, người học nghề được kèm cặp tập việc thông qua việc tham gia lao động ở xí nghiệp, ít đào tạo về lý thuyết chuyên môn. Mục tiêu nổi bật của đào tạo nghề ở đây là chỉ cần đạt được một trình độ kỹ năng chuyên môn nào đó. Ở các nước Mỹ, Anh, Nhật Bản thì trong trường trung học có dạy nghề nhưng không cấp chứng chỉ nghề chính thức. Người chịu trách nhiệm đào tạo nghề chính là các xí nghiệp đối với đội ngũ lao động của họ.